Skip to content →

Minh Dao Posts

Bầy vượn đen và nỗi lo tuyệt chủng

Vượn đen má trắng Siki (Ảnh: EPRC)

Tôi gặp Hiếu, chàng thanh niên vừa về sau một chuyến khảo sát vượn đen má trắng Siki (Nomascus Siki) tại các cánh rừng ở tỉnh Quảng Bình. Hiếu và các đồng nghiệp đã trải qua 31 ngày lặn lội, ăn ở trong rừng già thâm u.

Hiếu làm việc cho một tổ chức bảo tồn động vật hoang dã và đa dạng sinh học. Một trong những hoạt động của Hiếu là tham gia các cuộc nghiên cứu để đánh giá tình trạng hiện có của một số loài động vật hoang dã đang ở trong tình trạng rất nguy cấp và có nguy cơ tuyệt chủng, trong đó có vượn đen má trắng siki. Chuyến khảo sát vừa qua là sự tiếp nối của chuỗi nghiên cứu đang được thực hiện nhiều năm mà đợt đầu tiên đã được tiến hành vào năm 2016 cũng tại tỉnh Quảng Bình.

Vượn đen má trắng siki là loài linh trưởng chỉ có ở Việt Nam và Lào, được xếp hạng rất nguy cấp (CR) trong Danh lục đỏ của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) và được luật pháp Việt Nam bảo vệ theo Nghị định 06/2019/ NĐ-CP của Chính phủ. Loài này cư trú tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị, nhưng tập trung chủ yếu ở tỉnh Quảng Bình. Quần thể loài đang phải đối mặt với nguy cơ suy giảm số lượng nghiêm trọng do mất môi trường sống hoặc môi trường sống bị nhiễu loạn do các hoạt động khai thác gỗ, săn bắn và thu hái lâm sản ngoài gỗ.

Kết quả nghiên cứu do Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên Việt  công bố năm 2019 chỉ ra rằng khu vực đa dạng sinh học trọng điểm Trường Sơn (nằm ở phía Tây Nam tỉnh Quảng Bình, giáp với biên giới Việt Nam – Lào) có số lượng quần thể vượn đen má trắng siki lớn nhất tại Việt Nam, với 347 đàn, trung bình mỗi đàn có từ 2-3 cá thể, tổng số chỉ có khoảng 1.000 cá thể.

Vượn đen má trắng siki thường sống ở các khu rừng kín thường xanh, liên tục di chuyển trên các tán cây cao. Chúng rất nhạy cảm với sự hiện diện của con người, vì vậy việc ghi nhận hình ảnh và đếm số lượng rất khó khăn. Tuy nhiên, có thể phát hiện được loài này thông qua tiếng hót to và dài của chúng, do đó các nhà nghiên cứu phải sử dụng phương pháp khảo sát dựa trên tiếng hót với sự hỗ trợ của máy ghi âm chuyên dụng. Vượn đen má trắng siki có tập tính hót vào lúc sáng sớm, nên đoàn nghiên cứu phải dậy từ 2-3 giờ sáng, khi trời vẫn còn tối, từ lán tạm lặng lẽ băng rừng đi đến địa điểm nơi có thể có các đàn vượn. Những cánh rừng già với dây leo chằng chịt, không có đường mòn, nên đoàn nghiên cứu phải lựa thế, phát dây leo và bụi cây để tạo lối đi.

Nguy cơ tuyệt chủng đang đến rất gần với nhiều loài động vật hoang dã do nạn săn bắn, chặt phá rừng trái phép và chuyển đổi đất rừng sang các mục đích nông nghiệp và thương mại. Báo cáo của Liên hiệp quốc (2019) cho thấy khoảng một triệu loài động thực vật hiện đang bị đe dọa tuyệt chủng. Hơn 40% các loài lưỡng cư, gần 33% san hô tái sinh và hơn một phần ba số động vật có vú ở biển đang bị đe dọa. Ít nhất 680 loài động vật có xương sống đã bị tuyệt chủng kể từ thế kỷ 16 và hơn 9% tổng số loài động vật có vú được thuần hóa dùng làm thực phẩm và trong nông nghiệp đã bị tuyệt chủng vào năm 2016; ít nhất 1.000 loài khác vẫn đang bị đe dọa.

Các nước phương Tây đã trải qua những quá trình “hủy diệt” nói trên do tác động của việc khai thác tài nguyên phục vụ công nghiệp nên giờ đây họ ý thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc bảo tồn động vật hoang dã. Do vậy, rất nhiều quỹ bảo tồn, hiệp hội bảo vệ động vật hoang dã ra đời để thực hiện sứ mệnh này, trong số đó có những tổ chức đang hiện diện tại Việt Nam.

Con số 347 đàn vượn gồm khoảng 1.000 cá thể là toàn bộ số lượng mà các nhà nghiên cứu đã khảo sát được trong giai đoạn 2016-2019. Dù số lượng ghi nhận được khá hạn chế nhưng dù sao vẫn còn là lạc quan. Bởi, kết quả đợt nghiên cứu năm nay tại khu vực huyện Minh Hóa và Tuyên Hóa của tỉnh Quảng Bình ghi nhận thấp hơn nhiều. Các nhà nghiên cứu đang đi tìm lời lý giải cho kết quả đáng buồn này, nhưng một giả thuyết đặt ra là tình trạng săn bắn trái phép vẫn diễn ra khiến số lượng cá thể vượn giảm đi nhanh chóng.

Nếu không được bảo tồn mạnh mẽ và hiệu quả thì chỉ trong một vài thập niên nữa vượn đen má trắng siki cũng như nhiều loài khác sẽ chỉ còn được nhắc đến qua sách báo, tài liệu.

Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 46-2020, ngày 12/11/2020. Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền.

Leave a Comment

Làm việc cho công ty Nhật: Con đường không trải hoa anh đào

Ảnh: Tetsushi Suzuki

(TBKTSG) – Tôi khá bất ngờ khi đọc báo cáo mới đây về tuyển dụng và văn hóa doanh nghiệp tại công ty Nhật Bản của Navigos-công ty chuyên về dịch vụ tư vấn tuyển dụng nhân sự. Báo cáo cho thấy 77% số ứng viên tham gia khảo sát đã bình chọn công ty Nhật là doanh nghiệp châu Á có môi trường làm việc được yêu thích nhất. Bên cạnh đó, hơn một nửa số ứng viên tham gia khảo sát cũng chia sẻ họ đang tìm kiếm công việc tại doanh nghiệp Nhật trong thời gian tới. Con số này cao hơn rất nhiều so với các nước khác trong khu vực như Singapore chỉ là 11%, Việt Nam là 4%, và Hàn Quốc cũng chỉ đạt 1,7% số người được hỏi.

Lý do chính khiến doanh nghiệp Nhật được đánh giá hấp dẫn đối với họ là vì được “rèn luyện thái độ và phong cách làm việc chuẩn mực”, có “môi trường chuyên nghiệp” và cũng là nơi có “chế độ lương thưởng và phúc lợi hấp dẫn”.

Là người đang làm việc cho một công ty liên doanh có cổ phần chi phối của Nhật Bản, tôi phần nào hiểu được vì sao những người được khảo sát có nhìn nhận như vậy. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi muốn chia sẻ một số trải nghiệm về môi trường làm việc trong doanh nghiệp Nhật Bản từ góc nhìn người trong cuộc để độc giả, đặc biệt là các bạn trẻ, có thêm thông tin khi quyết định nộp hồ sơ tìm việc tại các công ty Nhật Bản.

Chăm chỉ, tinh thần kỷ luật cao

Tôi được mời làm việc cho công ty liên doanh với Nhật Bản cách đây hơn ba năm. Lúc đó tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng Nhật Bản là một trong những quốc gia phát triển hàng đầu thế giới với GDP cao, có các sản phẩm điện tử, ô tô… mang các thương hiệu tầm cỡ thế giới. Nhật Bản đã vươn lên từ đống đổ nát của Thế chiến thứ hai để trở thành một cường quốc nên chắc họ phải có những bí quyết thần kỳ hoặc có những tiến bộ đáng để học hỏi. Đây cũng là công ty thuộc loại có vốn đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, nên không suy nghĩ nhiều, tôi nhận lời làm việc cho công ty này.

Sau một thời gian làm việc, một số điều trước đây tôi đã được chia sẻ hoặc đọc trên báo chí về cách làm việc của người Nhật tỏ ra khá chính xác: làm việc chăm chỉ, đúng giờ và có tinh thần kỷ luật thép.

Người Nhật làm việc rất chăm chỉ và nghiêm túc. Họ đến văn phòng từ rất sớm, thường là 7 giờ sáng và ngồi lại làm việc muộn, thường là 19 giờ, thậm chí muộn hơn. Họ có ý thức và nghiêm túc thực hiện việc tiết kiệm tài nguyên công ty và tuân thủ quy định về an toàn. Ông sếp cũ người Nhật của tôi luôn là người đầu tiên đến và là người cuối cùng rời khỏi văn phòng. Trước khi về ông luôn kiểm tra từng chiếc điều hòa, quạt, thậm chí ổ cắm nối với công tắc đã được tắt hay chưa. Ông luôn quan tâm đến quy định của công ty và vấn đề vệ sinh. Nếu không may ai đó quên rửa cốc uống nước và để vào đúng nơi quy định thì ngày hôm sau nơi đầu tiên may ra họ có thể tìm thấy chiếc cốc tội nghiệp của mình là thùng rác.

Làm việc với người Nhật thì việc đúng giờ cần được tính theo từng giây, từng phút. Tôi hầu như không thấy người Nhật đến muộn trừ khi có lý do chính đáng. Chỉ cần lái xe đến đón muộn hai phút, ông sếp của tôi đã gửi e-mail đến nhà thầu cung cấp xe để phản ánh sự chậm trễ của tài xế.

Ý thức về việc công và việc tư rất rõ ràng đối với người Nhật. Tôi nhớ rất rõ, Tết Nguyên đán năm 2017, khi toàn thể nhân viên công ty được nghỉ lễ, thì sáng mùng 1 Tết, ông sếp của tôi vẫn gọi xe để đi kiểm tra khu vực quanh nhà máy như thường lệ trước sự ngỡ ngàng của người lái xe vì phải tức tốc bắt taxi từ quê cách đó 60 cây số đến để phục vụ. Thậm chí khi gia đình có việc tang, ông về nước và quay trở lại làm việc trong thời gian rất ngắn, tuyệt nhiên không để vấn đề gia đình ảnh hưởng đến công việc.

Người Nhật có văn hóa trung thành với công ty. Có nhiều đồng nghiệp người Nhật mặc dù tuổi đã cao, nhiều người chuẩn bị về hưu, nhưng khi sang Việt Nam họ vẫn chỉ được giao những công việc tương đối đơn giản, và họ vẫn cần mẫn làm việc. Chúng tôi thường tự hỏi tại sao họ có thể nhẫn nại làm những việc như vậy.

Những trải nghiệm khác

Sau những điều khâm phục, tôi bắt đầu được trải nghiệm những vấn đề mà tôi hiếm khi gặp phải khi làm việc cho các công ty phương Tây nhưng lại rất phổ biến ở công ty Nhật Bản.

Cứng nhắc và chi tiết: Trước đây khi làm việc cho các công ty và tổ chức châu Âu tôi quen với phong cách làm việc linh hoạt, chủ yếu tập trung vào kết quả đầu ra. Nhưng đối với công ty Nhật, các đồng nghiệp của tôi đều đi vào các vấn đề tiểu tiết. Phần lớn nội dung công việc nếu có bình luận qua lại đều phải sử dụng chế độ “track change” để thể hiện những thay đổi trong nội dung. Kết quả là sau một vài vòng trao đổi và góp ý, tài liệu đã trở nên hỗn độn rất khó theo dõi.

Lạm dụng e-mail: E-mail là phương tiện làm việc chưa thể thay thế trong môi trường văn phòng, tuy nhiên những năm gần đây các nghiên cứu và phân tích đều chỉ ra rằng việc lạm dụng e-mail sẽ làm giảm năng suất, lãng phí thời gian và làm xơ hóa mối quan hệ giữa con người với con người.

Xu hướng của các doanh nghiệp phương Tây hiện nay đang giảm thiểu e-mail và sử dụng các công cụ mang tính tương tác cao và hiệu quả hơn như Slack, Asana. Điều này hoàn toàn đối nghịch với công ty tôi làm việc, từ việc lớn đến việc nhỏ đều được gửi qua e-mail. Hàng loạt người không liên quan trực tiếp nhưng vẫn được “cc” trong e-mail trả lời mà không có nội dung gì ngoài việc “cảm ơn” hoặc “tôi đã ghi nhận vấn đề này”. Mỗi ngày tôi nhận được hàng trăm e-mail các loại, một phần ba trong số đó là các e-mail dạng này, một phần ba là e-mail không liên quan mà chỉ được gửi ở dạng chia sẻ thông tin.

Sợ trách nhiệm và tuân lệnh cấp trên: Chưa ở đâu tôi thấy hệ thống thứ bậc thể hiện rõ ràng như công ty Nhật. Mọi việc trong công ty đều được thực hiện chặt chẽ theo ý kiến của lãnh đạo, một khi lãnh đạo đã có ý kiến hoặc đã quyết thì cấp dưới về cơ bản chỉ có việc thực thi. Rất ít khi tôi được nghe ý kiến phản biện sau khi lãnh đạo đã có ý kiến.

Nhưng Nhật Bản cũng không phải là quốc gia duy nhất có văn hóa như vậy, tôi được biết một số công ty của Hàn Quốc mà tôi có dịp làm việc cùng cũng có văn hóa làm việc tương tự.

Thiếu sáng tạo và đầy áp lực: Mọi công việc đều được thực hiện theo quy trình, mọi thứ cứ theo quy trình để làm, hầu nhưng không có không gian và điều kiện cho những sáng tạo từ nhân viên. Hầu như không có không gian cho cho sự ngẫu hứng và sáng tạo. Sự cân bằng giữa cuộc sống và công việc không tồn tại trong môi trường làm việc của Nhật.

Với thời gian làm việc dài nên ông sếp vào loại to của công ty tôi thường ngủ gật trong các cuộc họp do ông chủ tọa. Đồng nghiệp người Nhật cho biết áp lực công việc của họ tại quê nhà còn cao hơn nhiều. Điều này phần nào có thể lý giải vì sao trong những năm vừa qua Nhật Bản luôn là nước có tỷ lệ tự tử cao hàng đầu thế giới.

Làm việc là để phục vụ cuộc sống, với tâm niệm như vậy nên nếu có sự lựa chọn trong tương lai, công ty Nhật sẽ không phải là ưu tiên của tôi. 

Tác giả: Đào Quang Minh

Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài gòn ngày 25/10/2018. Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền.

One Comment

Ai bảo vệ thông tin cá nhân?

Ông tôi năm nay đã ngoài 90 tuổi, mỗi lần gặp lại thấy trên tay ông là chiếc iPad, ông say sưa lướt Facebook và bình luận các tài khoản của con cháu. Bà thì dùng một chiếc iphone cũ cũng vào Facebook để xem ảnh của con cháu.

Mười ba năm trước tôi bắt đầu sử dụng Facebook khi đang học thạc sỹ ở nước ngoài. Thời điểm đó chỉ sinh viên có email của trường học mới được đăng ký. Tôi cẩn thận khai đầy đủ thông tin cá nhân và hồi hộp khi tạo tài khoản. Hiện nay, tôi càng ngày càng ít sử dụng và thỉnh thoảng lại khóa tài khoản do những lo ngại về thông tin cá nhân và sự riêng tư.

Sự phát triển của công nghệ mang lại nhiều tiện dụng cho cuộc sống: ứng dụng bản đồ của Google giúp ta tìm đường dễ dàng; Messenger, iMessage và Skype giúp giữ liên lạc liên tục và giảm tối đa chi phí so với nhắn tin SMS truyền thống; Gmail giúp trao đổi công việc thuận lợi và dễ dàng. Tuy nhiên lợi luôn đi cùng với hại.

Chuyện các hãng công nghệ sử dụng thông tin cá nhân của người dùng cho việc quảng cáo chẳng phải là chuyện mới. Họ cung cấp hàng loạt dịch vụ miễn phí, ví dụ Facebook ngoài mạng xã hội còn có Instagram, Whatsapp, Messenger; Google thì có Gmail, bản đồ, ảnh, Youtube, Blogger…đổi lại các hãng này yêu cầu được quyền sử dụng thông tin mà chúng ta cung cấp cho họ để kiếm tiền thông qua quảng cáo.

Tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, kết hợp với mua thông tin từ bên thứ ba, các ông lớn công nghệ sẽ tạo ra hồ sơ về người dùng với các thông tin như tuổi, giới tính, nơi ở, địa điểm thường lui tới, bạn bè, sở thích, phương tiện giao thông, lịch trình đi lại, sở thích mua sắm, thời gian lưu trú tại các địa điểm…tất cả những thông tin này giúp họ đưa các quảng cáo đúng đối tượng và thời điểm.

Theo điều tra của Thời báo New York có ít nhất hơn 70 ứng dụng điện thoại bán thông tin của người dùng cho bên thứ ba. Nếu ai sử dụng điện thoại thông minh, hẳn đều có ứng dụng thời tiết được cài đặt mặc định để xem dự báo thời tiết phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Những ứng dụng hữu ích này – theo điều tra trên – cũng không ngần ngại bán thông tin người dùng cho bên thứ ba. Thông tin của những ứng dụng này được đánh giá có giá trị cao vì cho biết chính xác địa chỉ lui tới của người dùng, thậm chí có thể cho biết tối qua bạn lưu trú ở khách sạn nào.

Ngoài các công ty, các nhà quảng cáo, Chính phủ các nước cũng rất quan tâm đến thông tin cá nhân, theo Báo cáo Minh bạch của Google từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2017 họ nhận được 57.868 yêu cầu cung cấp thông tin người dùng từ các nước khác nhau. Tương tự, Facebook nhận được 103.815 yêu cầu cung cấp thông tin từ Chính phủ các nước trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2018. Các Chính phủ không dùng thông tin cho quảng cáo, nhưng họ sử dụng vào mục đích gì (đặc biệt là những Chính phủ độc tài và không minh bạch) thì chỉ có một số ít người có trách nhiệm mới biết được.

Việt Nam thì sao?

Không nằm ngoài xu thế, ứng dụng của các ông lớn như Facebook, Google, Amazon and Microsoft cũng được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam. Tính đến tháng 7 năm 2017 số lượng người dùng Facebook tại Việt Nam là 64 triệu người, đứng thứ 7 trên thế giới về số lượng người dùng. Theo số liệu của SimilarWeb, Google là trang được truy cập nhiều nhất tại Việt Nam trên cả Facebook. Theo ước tính số lượng người dùng internet ở Việt Nam vào khoảng 64 triệu người năm 2018.

Việt Nam không có những công ty công nghệ tầm cỡ khu vực thế giới nhưng các công ty đều hiểu rõ tầm quan trọng của việc có được thông tin cá nhân của khách hàng và người dùng qua nhiều cách khác nhau như chủ động thu thập hay mua từ bên khác. Dù việc bảo vệ thông tin cá nhân như đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình v.v..được quy định trong Hiến pháp và các luật liên quan, ví dụ: điều 10, mục 2 luật An toàn thông tin mạng quy định: tổ chức, cá nhân không được gửi thông tin mang tính thương mại vào địa chỉ điện tử của người tiếp nhận khi chưa được người tiếp nhận đồng ý hoặc khi người tiếp nhận đã từ chối, trừ trường hợp người tiếp nhận có nghĩa vụ phải tiếp nhận thông tin theo quy định của pháp luật. Và mục 3 quy định: doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng viễn thông và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin gửi thông tin có trách nhiệm áp dụng biện pháp ngăn chặn, xử lý khi nhận được thông báo của tổ chức, cá nhân về việc gửi thông tin vi phạm quy định của pháp luật; có phương thức để người tiếp nhận thông tin có khả năng từ chối việc tiếp nhận thông tin. Tuy nhiên, trên thực tế việc xâm phạm thông tin cá nhân vẫn diễn ra rất phổ biến.

Việc nhận được các cuộc gọi mời mua bảo hiểm, bất động sản, thẻ hội viên trung tâm thể dục thẩm mỹ, chứng khoán …vẫn diễn ra như cơm bữa. Hầu như không tuần nào mà điện thoại của tôi không nhận ít nhất một hai cuộc gọi hoặc tin nhắn quảng cáo sản phẩm hoặc dịch vụ. Thậm chí thông tin có mức độ bảo mật cao nhưng lịch trình bay cũng bị dò rỉ. Thu Hà – bạn tôi – vừa từ Huế về, cô cho tôi xem điện thoại với bốn tin nhắn mời dùng dịch vụ taxi sân bay được gửi ngay trước ngày cô bay đến Phú Bài. Đây là những thông tin mà chỉ những người có trách nhiệm của hãng hàng không và đại lý mới nắm được, không hiểu sao những thông tin như vậy nhưng vẫn bị tuồn ra bên ngoài dễ dàng.

Không đổ lỗi cho nhà quảng cáo vì công việc của họ là tìm kiếm lợi nhuận qua việc quảng cáo. Quảng cáo có mặt tích cực, nhờ quảng cáo mà khách hàng biết đến những sản phẩm có chất lượng tốt. Vấn đề là họ có tôn trọng và tuân thủ đúng theo đúng quy định của pháp luật hay không? Mỗi người nên tự hỏi liệu mình đã có dễ dãi cho đi thông tin cá nhân của mình không? Đi mua hàng ở đâu các cửa hàng cũng đều khuyến khích người mua đăng ký thông tin thành viên và thậm chí tải ứng dụng của họ, đổi lại người mua được khuyến mãi hay được cộng điểm. Nhiều người chặc lưỡi, cho cửa hàng số điện thoại và được khuyến mãi thì có hại gì đâu, đôi bên cùng có lợi. Vấn đề ở chỗ thông tin cá nhân sau đó được quản lý như như thế nào, được sử dụng ra sao, ai được phép truy cập, có được mã hóa hay không và có bị bán cho một bên thứ ba hay không? Tôi chắc rằng trong rất nhiều trường hợp chúng ta không có có câu trả lời. Kể cả dữ liệu đó được quản lý nghiêm túc thì ai đảm bảo việc dữ liệu đó không bị dò rỉ ra bên ngoài do những lỗ hổng về công nghệ, vụ dò rỉ dữ liệu gần đây của Thế Giới Di Động và Con Cưng là những ví dụ dễ thấy.

Vấn nạn tin nhắn quảng cáo diễn ra tràn lan mặc dù gần đây cũng đã có giảm bớt sau khi các nhà mạng mạnh tay cắt các đầu số thường xuyên nhắn tin quảng cáo trước sức ép của công luận và cơ quan quản lý tuy nhiên những nỗ lực đó vẫn chưa đủ.

Từ phía người dùng việc chủ động bảo vệ thông tin cá nhân cũng chưa được nhiều người coi trọng. Các thông tin như tên tuổi, ngày sinh, địa chỉ nhà riêng, trường học của con, thời gian đón con, nơi làm việc, ảnh đi đâu ăn gì…được chia sẻ hàng ngày, hàng giờ trên mạng xã hội. Thậm chí những thông tin nhạy cảm như số CMND, số hộ chiếu, bằng lái xe, vé máy bay, đặt phòng khách sạn v.v..cũng được chia sẻ hồn nhiên trên mạng xã hội.

Thông tin cá nhân không được quản lý chặt chẽ ngoài việc biến mỗi cá nhân thành mục tiêu của quảng cáo thái quá, còn tạo nguy cơ bị kẻ xấu lợi dụng. Vụ việc một công dân Việt Nam bị cảnh sát Pháp bắt vào tháng 12/2018 vì nghi ngờ buôn bán ma túy là sự việc đáng tiếc mà theo đánh giá sơ bộ thì có thể do bị đánh cắp thông tin cá nhân.

Luật An ninh mạng (ANM) được Quốc hội phê chuẩn và chính thức áp dụng từ đầu năm nay được cho là góp phần quản lý thông tin và đảm bảo an toàn được tốt hơn. Tuy nhiên có rất nhiều ý kiến trái chiều về luật này đơn cử như việc hạn chế quyền ẩn danh của người dùng (thông qua việc cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà cung cấp dịch vụ internet), yêu cầu các doanh nghiệp công nghệ phải lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam…Trước khi có khung pháp luật được hoàn thiện và thực thi nghiêm túc để bảo vệ thông tin và sự riêng tư cho người dân, thiết nghĩ mỗi người nên cân nhắc thấu đáo về việc chia sẻ để bảo vệ thông tin cá nhân cho chính mình.

Tác giả: Đào Quang Minh

Đây là bản gốc của bài viết cùng tên đã được biên tập và đăng tải trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 18/2019. Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền bài viết.

Leave a Comment

Tư duy thưởng Tết

Hưng đang làm cho một công ty nước ngoài, cung cấp dịch vụ tòa nhà cho khu vực phía Bắc. Tôi gặp Hưng chiều cuối năm 2018. Câu chuyện liên tục bị ngắt vì Hưng phải nhận các cuộc gọi công việc.

 “Anh thông cảm nhé”, Hưng phân bua, “Cuối năm rồi, em phải tranh thủ mời khách đi ăn tất niên để giục họ trả công nợ. Nhiều lần em đến tận công ty mà khách tránh không gặp”.

Tôi hỏi sao phải vất vả thế, Hưng giải thích, thưởng Tết nhiều hay ít phụ thuộc doanh số đem về. Năm vừa rồi, “trộm vía” cậu vẫn chốt được nhiều hợp đồng hơn so với năm trước, cộng với việc công ty cũng nâng tỷ lệ chiết khấu hoa hồng. “Chắc Tết này em sẽ được một món khá hơn nhiều so với năm ngoái”. Chưa biết được bao nhiêu tiền nhưng cuối năm là thời gian căng thẳng cao độ của Hưng. Năm ngoái, cậu được thưởng 30 triệu đồng.

Hương là công nhân nhà máy sản xuất giày da huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa cũng đang chờ lĩnh thưởng Tết. Chủ đề chính của mọi người trong dây chuyền và khu nhà trọ bây giờ là năm nay được thưởng bao tiền. Ngành giày da có số lượng công nhân rất lớn, trung bình hơn 10.000 công nhân mỗi nhà máy, nên tiền thưởng mà Hương nhận được trong những năm gần đây không bằng bạn bè đang làm cho doanh nghiệp khác cùng địa bàn.

Hương kể, cô được nhận nửa tháng lương cho khoản thưởng Tết năm ngoái. Lương của cô hiện là 3,2 triệu mỗi tháng, nên cô dự tính mấy hôm nữa sẽ được nhận 1,5 triệu đồng sau khi trừ thuế. Nhưng nhìn xuống, cô thấy mình vẫn may mắn hơn một bạn khác, cô ấy chỉ được có 50.000 đồng.

Thưởng Tết muôn hình vạn trạng. Điều 103 Bộ Luật lao động năm 2012 quy định “Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hàng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động”. Tức Luật khuyến khích nhưng không bắt buộc doanh nghiệp phải thưởng Tết.

Dù luật không bắt buộc nhưng thưởng Tết vẫn là thông lệ được trông đợi. Tư duy thưởng Tết theo quan sát của tôi đã thay đổi nhiều so với thời kỳ đầu Việt Nam mới thu hút FDI. Trước đây, nó là điều nhiều doanh nghiệp cho rằng thôi thì đối phó cho xong. Họ tìm cách ban phát cho có: vài chục, vài trăm ngàn, có nơi bí quá thưởng bằng chính sản phẩm công ty kinh doanh.

Tôi từng biết có người phải khuân cả chục bịch bỉm tã trẻ em và khăn mặt về nhà thay cho thưởng Tết. Có nơi các sếp trốn biệt luôn, bỏ lại công nhân sụt sùi không thưởng Tết lẫn tháng lương cuối năm. Nhưng trên bình diện rộng, Thưởng Tết đã được nhìn nhận tích cực hơn, linh hoạt hơn, như một công cụ quản lý và gia tăng giá trị cho công ty.

Hiện nay, các doanh nghiệp tại Việt Nam đang có hai hình thức thưởng Tết cơ bản: thưởng đại trà và thưởng đặc biệt. Thưởng đại trà sẽ khuyến khích được toàn bộ người lao động, đặc biệt những doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động giản đơn. Nhưng thưởng tết “cào bằng” không phù hợp đối với những ngành mà nhân sự ít nhưng đòi hỏi chuyên môn cao hoặc những vị trí cấp cao. Về phương diện quản trị nhân sự, việc doanh nghiệp thưởng mang tính “cào bằng” chỉ mang tính khích lệ, kiểu như một món quà Tết cho người lao động chứ không phải thực sự là phần thưởng vì những giá trị lao động đã mang lại. Quản trị nhân sự và phát triển doanh nghiệp hiện đại chú trọng nhiều hơn đến các cá nhân xuất sắc, những vị trí then chốt công ty cần giữ.

Năm ngoái, có doanh nghiệp ở TP HCM thưởng đến vài trăm triệu hay cả tỷ đồng cho một số vị trí. Tôi nghĩ đó cũng là mặt đáng mừng của nền kinh tế và cả thị trường lao động.

Báo cáo “Khảo sát về phúc lợi và thưởng Tết năm 2019 tại Việt Nam” của Navigos cho thấy có 82% nhân viên cho biết sẽ “phản ứng cụ thể” nếu không nhận được thưởng Tết như đúng mong đợi. Khoảng 27% người được hỏi cho biết sẽ nghỉ việc và xin vào nơi khác có mức thưởng Tết tốt hơn, 55% lựa chọn sẽ cùng đồng nghiệp kiến nghị công ty phải thưởng Tết. Thông tin về thưởng Tết được 53% ứng viên tìm kiếm khi tìm việc. Ngược lại, chỉ 37% nhà tuyển dụng sẵn sàng thể hiện những thông tin này trong bản mô tả công việc đăng tuyển của công ty mình.

Người lao động có quyền mong đợi thưởng Tết, bởi nếu không cảm thấy mình đã làm việc đủ tốt, có lẽ không nên tiếp tục ở lại công ty. Còn người sử dụng lao động tử tế và khôn ngoan sẽ không bao giờ lờ đi khoản thưởng này. Bởi tại Việt Nam, cho dù luật không quy định, nó mặc định là công cụ quản trị quan trọng để động viên nhân viên, giữ chân người ưu tú, đảm bảo hoạt động ổn định cho doanh nghiệp. Quan trọng hơn, thưởng Tết sẽ hiệu quả như khoản chi cho tiếp thị, giúp tăng uy tín và danh tiếng công ty.

Việc khối doanh nghiệp nước ngoài chấp nhận một “luật bất thành văn” tại Việt Nam thường không phải tín hiệu tốt cho môi trường kinh doanh. Nhưng thưởng Tết là một trường hợp đặc biệt.

Tác giả: Đào Quang Minh

Bản quyền: VnExpress

Leave a Comment

Chuyển mạng giữ số

Ảnh: Matt Antonioli

Cả buổi cà phê cuối tuần rồi ở Nghĩa Tân, cậu bạn từ hồi cấp ba xả với tôi bực dọc về một nhà mạng.

H.A, đang điều hành công ty vận tải của gia đình, đã sử dụng thuê bao di động của một nhà mạng lớn 15 năm. Bạn tôi thích “phượt” vùng cao, vùng sâu mỗi tháng một, hai lần. Vấn đề là mạng di động anh sử dụng thường mất sóng khi lên núi Hà Giang hay vào bản xa, không thể gọi điện xử lý công việc ở nhà. Khi biết ba nhà mạng lớn chính thức áp dụng dịch vụ chuyển mạng giữ số, H.A hăm hở đến điểm giao dịch để làm thủ tục chuyển mạng. Tiết kiệm thời gian, anh đã đọc kỹ hướng dẫn, điền đăng ký online từ nhà trước khi đến giao dịch – nhà mạng không tiếp nhận xử lý từ xa.

“Vì sao anh lại muốn rời mạng?”, nhân viên hỏi. “Anh hay đi công tác vùng xa, thường bị mất sóng”, H.A đáp. “Bên em cũng đang có kế hoạch cải thiện vùng phủ sóng, trong thời gian tới anh sẽ thấy vùng phủ sóng của bên em tốt hơn”, cô nhân viên tiếp. “Ừ, nhưng anh vẫn muốn chuyển, anh không đợi được, công việc bị ảnh hưởng nhiều quá”, bạn tôi ngồi chờ. Không thuyết phục được khách, cô miễn cưỡng đưa tờ khai để anh đăng ký chuyển đổi mạng. Bạn tôi ra về.

Hôm sau, anh nhận được tin nhắn từ Trung tâm chuyển mạng quốc gia thông báo yêu cầu của khách hàng bị sai, đề nghị anh liên hệ với nhà mạng cũ để hoàn thiện thủ tục. Thông báo không nói rõ anh bị sai chi tiết gì. Liên hệ nhà mạng cũ, họ nói thông tin chứng minh thư bị sai, anh phải ra cửa hàng ủy quyền hoặc điểm giao dịch của nhà mạng để hoàn thiện thủ tục. Anh đến một cửa hàng ủy quyền ở khu vực quận Cầu Giấy, điền thông tin theo yêu cầu. Tưởng đã xong, hai ngày sau anh lại nhận được một tin nhắn từ Trung tâm chuyển mạng thông báo yêu cầu của anh không thành công với lý do tương tự như lần trước. Anh lại tiếp tục ra cửa hàng ủy quyền để cung cấp thông tin, lần này họ nói “địa chỉ trên hộ khẩu không khớp”. Lần thứ ba, thông báo chưa đủ điều kiện chuyển mạng và được yêu cầu hoàn thiện thông tin vì mã khách hàng không khớp. Tổng cộng, vì một tờ khai, anh phải đến cửa hàng ủy quyền ở khu vực Cầu Giấy ba lần, mỗi lần mất ít nhất hai tiếng trong giờ làm việc cho cả thời gian đi lại và chờ đến lượt giao dịch với nhân viên.

Chưa kể, từ hôm đó, ngày nào anh cũng nhận được cuộc gọi của tổng đài nhà mạng hỏi về lý do tại sao muốn rời mạng. Ban đầu bạn tôi cảm kích vì thấy nhân viên cố gắng quan tâm khách, nhưng sau đó chuyển sang mệt mỏi vì câu hỏi lặp đi lặp lại suốt mấy ngày. Cuối cùng, khi thấy anh cương quyết rời mạng, nhân viên tổng đài không còn giữ giọng nhẹ nhàng như ban đầu, lạnh lùng cảm ơn rồi cúp máy cái rụp.

Quá bực mình, anh gọi lại tổng đài, nói rõ mình đang ghi âm lại cuộc gọi, đề nghị nhân viên tổng đài cho biết mã số nhân viên và trả lời câu hỏi. Ngoài ra, anh quay clip khi đến điểm giao dịch để làm bằng chứng. Sau gần hai tháng mệt mỏi vì mất rất nhiều thời gian và công sức cho việc chuyển mạng, mối thiện cảm với nhà mạng hoàn toàn biến mất, thậm chí bạn tôi tiếc rằng mình đã tin tưởng và sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp này lâu như vậy.

Chuyển mạng giữ số là một dịch vụ phố biến không chỉ ở những nước tiên tiến mà ở cả những nơi ngành viễn thông chưa phát triển mạnh như Châu Phi. Hồi đi học tại Anh cách đây cả chục năm, tôi có thói quen nhìn số điện thoại để xem đó là của nhà mạng nào, nhưng tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng đầu số không cố định theo một nhà mạng nào. Cùng một thuê bao khách hàng đăng ký ban đầu, nhưng dịch vụ được cung cấp bởi các công ty viễn thông khác nhau tùy địa bàn và nhu cầu của người dùng.

Nhiều năm qua tại Việt Nam, do cơ chế thay đổi nhà mạng là phải đổi số liên lạc nên có những người tuy không hài lòng với nhà mạng nhưng ngại đổi số điện thoại vì đã trót sử dụng nhiều năm, sợ thất lạc những mối quan hệ cần thiết nên chấp nhận ở lại. Chuyển mạng giữ số là bước ngoặt mở ra một trang mới trong mối quan hệ giữa khách hàng và nhà mạng, tạo cạnh tranh công bằng hơn trên thị trường viễn thông. Nhà cung cấp nào làm tốt hơn sẽ thu hút nhiều người dùng hơn. Sự dịch chuyển của người dùng trở thành tiếng nói uy quyền thay vì thứ yếu như trước. Cơ chế mới này cũng mở ra cơ hội cho nhà mạng nhỏ hơn nhưng nếu cung cấp dịch vụ chất lượng hơn sẽ vẫn sống khỏe, khuyến khích các nhà mạng cạnh tranh sòng phẳng về chất lượng phục vụ và mở rộng vùng phủ sóng.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy trung bình ở đa số thị trường, có khoảng 5% lượng khách hàng chuyển mạng. Tỷ lệ này không nhiều và có thể chấp nhận được.

Vấn đề đang xảy ra với các nhà mạng tại Việt Nam, là cách ứng xử với khách hàng. Không riêng cậu bạn nối khố của tôi, hàng chục người quen, đồng nghiệp khác cũng phàn nàn về sự khó chịu khi bị nhân viên các nhà mạng níu kéo dai dẳng đến mức gây phiền hà. Người ta thường ra đi thử trước khi ra đi thật. Một thiểu số nhà mạng đang tạo ra những rào cản về thủ tục để làm khách hàng thay đổi, hay những gói khuyến mãi kèm với cam kết sử dụng dịch vụ trong khoảng thời gian dài để “trói chân” khách. Song tôi chưa thấy ai, vì sự níu kéo đó mà “nản chí” rồi ở lại. Những ngày này, chúng ta không khó thấy các chia sẻ trên mạng xã hội về ứng xử của một số nhà mạng. Thử hỏi những ai nghe bạn tôi kể lại trải nghiệm ở trên, còn thiết tha với nhà mạng đó?

Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc triển khai chuyển mạng giữ số của các nhà mạng Việt Nam trong giai đoạn thử nghiệm (từ 16/11/2018 đến 13/2/2019) cho hay, tỷ lệ chuyển đi khỏi mạng thành công của Mobifone là 23,09%, Viettel là 83,56% và Vinaphone ở mức 68,28%. Số liệu cũng cho biết các nhà mạng lớn đều mất đi một lượng khách hàng, nhưng ngược lại, họ cũng tiếp nhận được một lượng khách hàng mới từ đối thủ cạnh tranh. Cụ thể, VinaPhone có 35.688 thuê bao đăng ký chuyển đến, Viettel nhận thêm 46.961 và Mobifone nhận thêm 9.940 thuê bao.

“Ngăn sông, cấm chợ” có lẽ không còn là cách tư duy kinh doanh hợp thời, nhất là khi ngành viễn thông đang đối mặt với các dịch vụ thông tin, liên lạc miễn phí kèm theo vô số hình thức sáng tạo mà chúng ta chưa biết hết của nền kinh tế số hóa đang ập tới.

Nhìn rộng hơn, các quy định đối xử với người dùng trên thị trường viễn thông có lẽ cần xây dựng chi tiết, minh bạch, sòng phẳng và công khai rộng khắp với người dùng ở một thị trường sắp chạm 100 triệu dân. Tốt hơn nữa, tôi tin các chính sách nhằm giảm bớt sự đậm đặc của độc quyền viễn thông – dù dưới hình thức nào – cũng cần được xem xét và hóa giải. Người dân và nền kinh tế sẽ hưởng lợi lớn hơn nhiều nếu xa lộ thông tin được thông thoáng.

Tác giả: Đào Quang Minh

Ghi chú: đây là nguyên gốc của bài viết Các nhà mạng viễn thông không khéo sẽ mất khách hàng được đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 11/2019, ngày 14 tháng 3 năm 2019

Bản quyền: Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Leave a Comment

Google và dự án Dragonfly

Ảnh: Michael Payne

Ngày 11 tháng 12 vừa qua CEO của Google là Sundar Pichai đã có phiên điều trần trước Ủy ban tư pháp hạ viện Mỹ về Dragonfly (Chuồn chuồn) – dự án bí mật của gã khổng lồ công nghệ của Mỹ nhằm xây dựng cỗ máy tìm kiếm dành riêng cho Trung Quốc.

Những thông tin đầu tiên về dự án này được biết đến từ hồi tháng 8 năm 2019 khi tài liệu dò rỉ về dự án này được đăng tải trên The Intercept. Theo tài liệu này, dự án Dragonfly được thực hiện từ mùa xuân 2017 và được đẩy mạnh vào tháng 12 cùng năm sau cuộc gặp của Pichai với lãnh đạo cấp cao của nước này.

Một nhóm dự án bí mật đã được thành lập nhằm xây dựng công cụ tìm kiếm tự động xác định và lọc những trang web bị chặn bởi Vạn Lý Trường thành trên mạng (Great Firewall) – hệ thống tường lửa của Trung Quốc. Khi một người thực hiện tìm kiếm, Google sẽ loại những trang web bị chặn khỏi trang đầu tiên của kết quả tìm kiếm và sẽ xuất hiện một tuyên bố miễn trách nhiệm với nội dung “một số nội dung có thể bị loại bỏ do yêu cầu bắt buộc”. Ví dụ về trang web bị loại bỏ bảo gồm trang của BBC và từ điển do mọi người đóng góp Wikipedia. Phần mềm tìm kiếm sẽ loại bỏ ngay những từ nhạy cảm ngay khi người dùng bắt đầu nhập thông tin. Phần mềm tìm kiếm phiên bản dành cho điện thoại cũng đã được phát triển.

Sau khi thông tin bị dò rỉ, dự án đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ nhân viên của Google. Theo The New York Times đã có 1400 nhân viên của Google ký lá thư trong đó có đoạn viết việc Google sẵn lòng tuân thủ yêu cầu kiểm duyệt của Trung Quốc “dấy lên vấn đề đạo đức” và “chúng tôi không có thông tin cần có để ra các quyết định thấu đáo về công việc, dự án và việc làm của chúng tôi”. “Chúng tôi rất cần có sự minh bạch hơn nữa, được tham gia thảo luận, có cam kết, tiến trình rõ ràng và cởi mở. Nhân viên Google cần được biết chúng tôi đang phát triển cái gì”.

Trong giới công nghệ, Google có tiếng là khá cởi mở trong việc tiếp thu ý kiến, thậm chí là những lời chỉ trích từ nhân viên. Sự cởi mở, linh hoạt và phân quyền là những điều góp phần tạo nên văn hóa tổ chức của Google. Vào thời điểm dự án Dragonfly bị dò rỉ, theo phần mềm trao đổi nội bộ của Google, vấn đề được nhân viên quan tâm nhất là liệu Google có đánh mất định hướng về đạo đức (ethical compass). Các ý kiến được trao đổi vào cuộc họp với nhân viên, tuy nhiên Pichai trả lời khá lấp lửng về vấn đề này khi bị chất vấn.

Với dân số gần 1,4 tỉ người, Trung Quốc từ lâu đã là thị trường mà các hãng công nghệ thèm muốn. Đến thời điểm hiện tại, các dịch vụ công nghệ có nguồn gốc từ phương Tây như Facebook, Instagram, Twitter, Google đều phải đứng ngoài cuộc chơi ở Trung Quốc. Các dịch vụ internet tại Đại lục đều do các công ty trong nước như Tencent, Baidu, Sina cung cấp. Theo Trung tâm thông tin mạng internet Trung Quốc (CNNIC) 95,1% người sử dụng internet của quốc gia này sử dụng thiết bị di động để truy cập internet trong năm 2016. Số người sử dụng internet di động là 773 triệu, sử dụng công cụ tìm kiếm là 624 triệu và trung bình sử dụng 27 giờ mỗi tuần để vào internet vào thời điểm tháng 12 năm 2017. Android – con đẻ của Google – là hệ điều hành chiếm đa số ở quốc gia này với hơn 80% thị phần.

Google đã từng triển khai hệ thống tìm kiếm có kiểm duyệt tại Trung Quốc từ năm 2006 nhưng đã rút khỏi Đại lục vào năm 2010 khi những căng thẳng với chính phủ Trung Quốc liên quan kiểm duyệt kết quả tìm kiếm lên đến đỉnh điểm, kết hợp với cuộc tấn công mạng nhằm vào người sử dụng dịch vụ Gmail và sức ép tại quê nhà khi bị Quốc hội Mỹ chỉ trích gay gắt.

Tám năm sau khi phải dừng cuộc chơi, gã khổng lồ vẫn không nguôi mong muốn trở lại Đại lục. Đặc biệt sau khi Pichai lên nhậm chức CEO vào năm 2015. Quan điểm của ông về vấn đề này rất rõ ràng: “tôi quan tâm đến việc phục vụ người dùng toàn cầu ở mọi ngóc ngách. Google dành cho tất cả mọi người. Chúng tôi muốn đến Trung quốc, phục vụ người Hoa”

Google đã thành lập 3 văn phòng đại diện tại Trung Quốc nhưng  vẫn chưa được cấp phép hoạt động trở lại. Đầu năm 2018, Google đã tìm đường trở lại thông qua việc đầu tư vào một dự án game – lĩnh vực được xem là ít nhạy cảm, nhưng tìm kiếm mới là cuộc chơi lớn nhất của gã khổng lồ này. Đường  vào Đại lục không chỉ gập ghềnh với mình Google mà một đồng hương khác là Facebook tháng 7 mới đây vừa tuyên bố mở văn phòng chi nhánh ở Hàng Châu nhưng ngay sau đó đó đã bị rút giấy phép hoạt động.  

Từ bên ngoài sức ép lên dự án của Google còn mạnh mẽ hơn. Ngày 11 tháng 12 trong một lá thư ngỏ của một liên minh gồm hơn 60 tổ chức và mạng lưới từ nhiều nước và vùng lãnh thổ khác nhau như Mỹ, Anh, Pháp, Argentina, Trung Quốc và Tây Tạng đã lên tiếng phản đối dự án này.  Nhóm này có nhiều tổ chức tên tuổi như tổ chức Ân xá quốc tế, Tổ chức phóng viên không biên giới, Tổ chức theo dõi quyền con người (HRW). Ngoài ra còn có một số nhân vật nổi tiếng  khác như cựu nhân viên NSA là Edward Snowden và nguyên trưởng nhóm về tự do thể hiện của Google Châu Á là Lokman Tsui.

Trả lời trước Ủy ban tư pháp hạ viện Mỹ về câu hỏi liệu bộ máy tìm kiếm có kiểm duyệt cho làm “tăng cường hệ thống kiểm soát và trấn áp”, Pichai đã đọc phần trả lời được chuẩn bị trước, trong đó có đoạn viết “dù chúng tôi mở rộng vào thị trường mới, chúng tôi không bao giờ quên nguồn gốc công ty Mỹ của mình”. Khi được yêu cầu khẳng định liệu hãng có triển khai công cụ cho việc giám sát và kiểm duyệt ở Trung Quốc, Pichai từ chối trả lời, thay vào đó ông cam kết “cung cấp thông tin cho người dùng như chúng tôi vẫn luôn làm – chúng tôi nghĩ rằng việc khai thác các khả năng là rất tuyệt…Chúng tôi sẽ cân nhắc rất kỹ lưỡng và sẽ tham vấn rộng rãi trong mỗi bước tiến”

Trong thời gian gần đây, nhất là sau vụ dò rỉ dữ liệu từ Edward Snowden, có nhiều quan ngại liên quan đến chuẩn mực đạo đức của hãng công nghệ này. Công bằng mà nói Google “dính” ít xì căng đan hơn gã khổng lồ khác là Facebook khi Facebook “dính” hàng loạt bê bối như Cambrige Analytica, vụ can thiệp của Nga về tin tức bầu cử Tổng thống Mỹ 2016, vụ lộ mật khẩu của 50 triệu người dùng và vấn nạn tin giả v.v.. Tuy nhiên những động thái và phát ngôn lấp lửng của lãnh đạo Google khiến công chúng lo ngại về sự mức độ tin cậy của công ty này.

Trước sức ép của công luận, quốc hội và chính nhân viên, Google đã phải dừng dự án Dragonfly nhưng có thể trong tương lai Google chưa chắc đã hoàn toàn từ bỏ dự án này vì những triển vọng lợi ích khổng lồ của nó có thể mang lại.

Khẩu hiệu của Google “Đừng là kẻ xấu” tuy nhiên nói đi đôi với làm không phải lúc nào cũng dễ dàng khi mà lợi ích kinh tế bị chi phối.

Leave a Comment

Đừng lơ là trách nhiệm xã hội doanh nghiệp!

Ảnh: Carlos Grury Santos/Unsplash

(TBKTSG) – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là một yêu cầu đang được đặt ra ngày càng cao trong xu hướng phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Song, trên thực tế cũng còn không ít doanh nghiệp trong nước chưa hiểu rõ sự cần thiết cũng như chưa quan tâm đến việc thực hiện CSR như một đòi hỏi tự thân.

Có nhiều cách hiểu khác nhau về CSR. Ngân hàng Thế giới (WB) định nghĩa CSR là “cam kết của doanh nghiệp trong việc đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế bền vững, làm việc với các nhân viên, gia đình họ, cộng đồng địa phương và xã hội để cải thiện chất lượng cuộc sống của họ, theo những cách thức vừa tốt cho doanh nghiệp và đồng thời cũng tốt cho sự phát triển”. Trong khi đó, Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế trong ISO 26000:2010 cho rằng, trách nhiệm xã hội là trách nhiệm của một tổ chức đối với các tác động của các quyết định và hoạt động của doanh nghiệp đó lên xã hội và môi trường, thông qua hành vi minh bạch và mang tính đạo đức, góp phần vào sự phát triển bền vững, bao gồm cả sức khỏe và phúc lợi xã hội, quan tâm đến mong muốn của các bên liên quan; là tuân thủ theo pháp luật hiện hành và các tiêu chuẩn quốc tế về hành vi, và kết nối toàn tổ chức và được thể hiện trong các mối quan hệ của tổ chức trong phạm vi ảnh hưởng của mình.

Vì sao cần CSR?

Phần nhiều các tập đoàn nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam thực hiện CSR chủ yếu do được thừa hưởng chính sách, chương trình từ tập đoàn mẹ. Bên cạnh trách nhiệm của doanh nghiệp như các định nghĩa về CSR nói trên, các doanh nghiệp thực hiện các chương trình hướng tới cộng đồng, xã hội còn vì một số lý do. Đầu tiên, là để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế của các bên cho vay. Ví dụ các dự án hoặc các công ty lớn đều đi vay vốn của các định chế tài chính như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, JBIC, KFW… Tất cả định chế này đều áp dụng một số bộ tiêu chuẩn, như bộ tiêu chuẩn thực hiện về phát triển bền vững môi trường và xã hội của Công ty Tài chính quốc tế (IFC) trực thuộc Ngân hàng Thế giới. Bộ tiêu chuẩn này gồm 8 tiêu chuẩn liên quan đến đất đai, sức khỏe, an toàn, môi trường và xã hội…

Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng phải đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Ví dụ, khi gia công giày cho Adidas hay New Balance, các công ty phải tuân thủ các quy định mà khách hàng này đưa ra như không sử dụng lao động trẻ em, đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và các yêu cầu về môi trường. Những yêu cầu này thường được cụ thể hóa trong những bộ quy tắc ứng xử trách nhiệm xã hội như SA 8000.

Thứ hai, thực hiện CSR là chiến lược để các công ty quản lý rủi ro và tạo sự đồng thuận xã hội. Thông thường công ty sẽ đối mặt với hai loại rủi ro chính: (1) rủi ro xã hội – là những rủi ro mà công ty có thể gây ra cho cộng đồng sinh sống xung quanh như tiếng ồn, khói, bụi, cháy nổ; (2) rủi ro công ty – là rủi ro mà cộng đồng sinh sống xung quanh có thể gây ra cho công ty như biểu tình, chặn đường ra vào công ty, phá hoại cơ sở vật chất và tài sản công ty… Thực hiện CSR sẽ giúp doanh nghiệp ngăn ngừa và hóa giải những rủi ro thông qua cung cấp thông tin hai chiều, đối thoại hoặc có những hỗ trợ thiết thực giúp cộng đồng phát triển sinh kế để bù đắp lại những thiệt hại nếu có (ví dụ, mất đất nông nghiệp cho việc xây dựng nhà máy, bị ảnh hưởng bởi khói bụi, tiếng ồn…).

Tất nhiên, nếu doanh nghiệp cố tình gây ô nhiễm môi trường, vi phạm luật lao động hay làm những điều trái với quy định của pháp luật thì có vờ thực hiện CSR cũng chẳng ích gì, bởi CSR lúc này chỉ là biện pháp trá hình mà không phải là một chiến lược xuất phát từ thực tâm của công ty.

Thứ ba, CSR còn là chiến lược tạo sự khác biệt về thương hiệu, xây dựng sự yêu thích từ khách hàng, người tiêu dùng. Đây đang là xu hướng được nhiều tập đoàn trên thế giới coi trọng.

Một số hạn chế về nhận thức CSR

Trên thực tế, việc áp dụng CSR ở nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế và đôi khi như là bị bắt buộc thay vì doanh nghiệp chủ động xây dựng chính sách này. Một lý do thường được đưa ra là tiềm lực tài chính còn hạn chế – một số chủ doanh nghiệp cho biết họ đang hàng ngày phải lo đến sự tồn tại và lợi nhuận của công ty trước khi nghĩ đến những vấn đề xa hơn như lợi ích xã hội. Tuy nhiên, biện minh này chưa thuyết phục vì có nhiều công ty mặc dù điều kiện sản xuất và kinh doanh còn khó khăn nhưng vẫn dành nhiều ngân sách cho các hoạt động xã hội, chẳng hạn đóng góp quỹ vì người nghèo. Hơn nữa, việc thực hiện CSR không nhất thiết lúc nào cũng cần ngân sách tốn kém, nhiều khi chỉ cần nguồn lực khiêm tốn cũng có thể tạo ra những lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp.

Một lý giải khác xem ra thuyết phục hơn, đó là nhận thức về CSR còn hạn chế trong doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp chưa biết đến CSR là gì. Một số doanh nghiệp đơn thuần quan niệm CSR là làm từ thiện cho người nghèo, những người kém may mắn trong xã hội. Về lý thuyết thì nhìn nhận này không sai, nhưng làm từ thiện chỉ là một góc nhỏ và là cách hiểu đơn giản, trong khi đó CSR là chiến lược chủ động và hướng đến nhiều đối tượng và nhiều chủ đề khác nhau.

Mặt khác, nhận thức về quyền của người tiêu dùng ở Việt Nam chưa cao. Ở các nước phát triển, với ý thức về môi trường sống rất cao nên người tiêu dùng chỉ ủng hộ những doanh nghiệp có trách nhiệm đối với xã hội. Khách hàng sẽ chọn mua sản phẩm và dịch vụ của các công ty biết nỗ lực vì một xã hội lành mạnh và hiệu quả. Ngược lại, trên thế giới đã có nhiều phong trào tẩy chay sản phẩm của các công ty vi phạm đạo đức, trách nhiệm xã hội, chẳng hạn sản phẩm tạo ra từ việc sử dụng lao động trẻ em, sản phẩm gây tổn hại môi trường…

Để phát triển CSR đòi hỏi doanh nghiệp phải có tầm nhìn dài hạn và có sự quan tâm thích đáng. Hiện nay Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam kết hợp với một số bộ ngành liên quan triển khai dự án và hoạt động để quảng bá cho CSR này, như trao danh hiệu cho doanh nghiệp thực hiện CSR tiêu biểu, đánh giá và xếp hạng doanh nghiệp bền vững. Những hoạt động như vậy cùng với các quy định luật pháp chặt chẽ và trên hết là nhận thức của người tiêu dùng đối với các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội được tăng cường, hy vọng sẽ giúp CSR được áp dụng rộng rãi hơn. 

Tác giả: Đào Quang Minh

Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 1 – 2019

Bản quyền: Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Leave a Comment

Trải nghiệm Ngân hàng số Timo

Timo Hangout – Ảnh: Timo

Tôi tình cờ biết đến ngân hàng số Timo – một dịch vụ của VPBank và một số nhà đầu tư khác – khoảng 2 năm trước đây khi đọc một blog chia sẻ kinh nghiệm quản lý tài chính. Sau khi xem qua cảm nhận của một số người đã dùng dịch vụ này trên mạng và xem giới thiệu trên trang web của Timo, tôi quyết định đăng ký dùng thử.   

Sau khi điền mẫu đơn đăng ký trên trang web của Timo, rất nhanh sau đó tôi được nhân viên của họ gọi điện hẹn đến văn phòng để xác nhận thông tin cá nhân và lấy thẻ ATM. Tiếng là văn phòng, nhưng nơi này được gọi là Timo Hangouts, nghĩa là một địa điểm để gặp khách hàng, với thiết kế trẻ trung bằng ghế sofa, café và trà miễn phí dành cho khách hàng đến đăng ký. Đúng như tên gọi, đây giống không gian của quán café hơn là một ngân hàng. Khi tôi đến, khách hàng đến đăng ký khá đông, chủ yếu là các bạn trẻ, có lẽ là những thích công nghệ và tò mò muốn thử nghiệm dịch vụ mới. Nhân viên Timo chỉ có vài người đều là người trẻ, thay vì ngồi ở sau quầy, thậm chí sau vách kính ngăn cách với khách hàng như thường thấy ở các ngân hàng, thì họ ngồi ngay cùng bàn café với khách hàng và đối chiếu thông tin qua máy tính bảng. Giấy tờ cá nhân của khách hàng được chụp trên máy tính bảng thay vì photo và gửi cho bộ phận xử lý thông tin qua Skype.

Khi ấy tôi được người của Timo giới thiệu rằng, đây là lần duy nhất mà khách hàng phải đến văn phòng của họ vì theo quy định của Ngân hàng Nhà nước thì người đăng ký tài khoản phải trực có mặt đề xuất trình giấy tờ cá nhân và ký đơn đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng.

Có một vài lý do khiến tôi muốn thử nghiệm dịch vụ ngân hàng mới Timo. Thứ nhất, tôi đang dùng dịch vụ của một vài ngân hàng khác, tuy nhiên giao diện khá rắc rối, cách thức sử dụng phức tạp. Thứ hai, là một người thường đi làm xa, tôi muốn sử dụng dịch vụ mà có thể thực hiện được càng nhiều các tốt các giao dịch ngân hàng qua điện thoại hoặc máy tính. Thứ ba, tiết kiệm chi phí từ giao dịch khi mà các ngân hàng đang có xu hướng tăng phí khá nhiều.

Timo cũng có nhiều tính năng rất thú vị và hữu ích mà sau một thời gian sử dụng tôi thấy thích. Đầu tiên, thiết kế khá đẹp, trực quan và dễ hiểu chứ không như dịch vụ ngân hàng trực tuyến của vài nhà băng khác. Tiếp theo là kiệm thời gian khi từ ngày sử dụng Timo bởi ngoài việc lần đầu tiên đến để ký xác nhận tôi hầu như không bao giờ phải đến ngân hàng nữa. Mọi nghiệp vụ đều được thực hiện từ điện thoại hoặc máy tính, việc này tiết kiệm rất nhiều thời gian cho việc di chuyển và chờ đợi trong thời đại bận rộn hiện nay.

Với dịch vụ của Timo, tôi có thể gửi tiết kiệm trực tuyến dễ dàng. Trước đây thỉnh thoảng khi dành dụm được một ít tiền, vợ chồng tôi có mang ra gửi tiết kiệm tại ngân hàng nhưng số tiền ít làm tôi rất ngại đi và cũng ngại mất thời gian. Nhưng nay với khoản tiền chỉ từ 1 triệu đồng, tôi chỉ cần vài thao tác trên điện thoại là có ngay một khoản tiết kiệm với kỳ hạn tùy chọn. Một tính năng rất có lợi cho người dùng mà tôi rất thích đó là việc Timo luôn gợi ý chia nhỏ sổ tiết kiệm ra làm 4 sổ tiết kiệm với số tiền mỗi sổ có giá trị bằng 1/4 để đề phòng trường hợp nếu người gửi khi có việc cần sử dụng tiền gấp thì chỉ cần rút ra số lượng vừa đủ, như vậy sẽ không mất toàn bộ tiền lãi. Chỉ một tính năng nhỏ như vậy thôi, nhưng tôi nhìn nhận đây là một chi tiết thể hiện sự quan tâm đến quyền lợi của khách hàng.

Ưu điểm nữa mà tôi nhận thấy đó là nếu như với nhiều ngân hàng khác, khi chuyển khoản người dùng phải điền đầy đủ thông tin người được chuyển khoản thì ngân hàng số Timo tự động điền thông tin tài khoản của một số ngân hàng chính. Nếu không may những thông tin này được điền không chính xác thì khoản tiền gửi đi sẽ bị trả lại. Timo có một tính năng rất tiện lợi, chỉ cần người dùng điền tên và số tài khoản ngân hàng, hệ thống sẽ tự kiểm tra và điền các thông tin còn lại như tên chủ tài khoản, chi nhánh ngân hàng v.v..Hiện nay tính năng này mới chỉ áp dụng được với khoảng hơn 20 ngân hàng nhưng dù sao cũng đã rất tiện cho người dùng rồi vì đây đều là những ngân hàng phổ biến tại Việt Nam.

Với Timo, tôi thậm chí có thể tự thiết lập các mục tiêu. Ví dụ như tôi muốn lên kế hoạch năm sau đi du lịch Thái Lan, tôi có thể lập mục tiêu để tiết kiệm cho việc này. Căn cứ trên số tiền cần có, mỗi tháng Timo sẽ tự động trích một khoản từ tài khoản chính, kiểu như “đút lợn” tiết kiệm, để đưa vào tài khoản này.

Bên cạnh những tiện ích như tự động thanh toán hóa tiền điện, điện thoại, khách hàng còn có thể mua chứng chỉ quỹ do Vina Capital quản lý và mua bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm du lịch rất đơn giản.  

Một ưu điểm lớn nữa đó là miễn phí nhiều dịch vụ. Tính từ thời điểm triển khai dịch vụ này đến nay phần lớn các dịch vụ như rút tiền qua thẻ ATM, chuyển khoản, phí thường niên…đều được miễn phí. Có thể sau vài năm khả năng cao là Timo sẽ tiến hành thu phí nhưng dù gì đi nữa với những tính năng tiện lợi và trải nghiệm mới mà dịch vụ này cung cấp thì việc trả một mức phí cạnh tranh để sử dụng dịch vụ này trong tương lai cũng là một điều đáng để cân nhắc.

Timo có nhiều điểm mạnh nhưng không phải không có những điểm hạn chế. Chẳng hạn, hệ thống thỉnh thoảng vẫn gặp trục trặc, đôi khi không truy cập được và việc gửi token qua tin nhắn điện thoại bị chậm. Để nộp tiền vào tài khoản, Timo có cung cấp các máy ATM có thể nộp tiền (CDM). Số lượng máy CDM này chưa nhiều nên nếu muốn nộp tiền qua CDM thì sẽ hơi mất công. Bù lại khách hàng có thể đến các chi nhánh của VPBank để nộp.

Một điểm yếu nữa của Timo là khi đến mở tài khoản, tôi quan sát thấy tài liệu của khách hàng được nhân viên của Timo chụp và gửi qua Skype. Skype là một phần mềm liên lạc phổ biến trong những năm trước đây nhưng nó không phải là một phần mềm chuyên biệt cho những lĩnh vực cần bảo mật thông tin như ngân hàng. Việc sử dụng Skype để truyền tải các thông tin nhạy cảm của khách hàng khiến tôi có đôi chút lo ngại. Hy vọng trong tương lại Timo sẽ có phương án thay thế tốt hơn. 

Tác giả: Đào Quang Minh

Bản quyền: Trí thức trẻ/Cafef

Leave a Comment

Hàng giả

Ảnh: Constanla Kleo/Unsplash

Mẹ tôi hào hứng kể chuyện gần đây bà tham gia câu lạc bộ ở nhà văn hóa khu phố. Ngày nào các thành viên câu lạc bộ cũng được ngồi máy trị liệu cao tần đa năng giúp cải thiện xương cốt và sức khỏe. Chiếc máy này do một doanh nghiệp tư nhân tặng miễn phí. Tôi mừng lắm, vì ngoài việc đưa các cháu đi học, bà thường chỉ ở nhà, ít tham gia các hoạt động giao lưu và rèn luyện cùng các cụ khác.

Cuối tháng rồi, tôi đi công tác về, vừa đặt ba lô xuống, con gái đã chạy ra tíu tít: “Bố ơi, bà nội mua nồi cơm điện mới. Bà bảo cái nồi cũ có cháy bị bố chê nên bà mua cái nồi này, chỉ 15 phút là cơm chín”. Tôi thấy hơi lạ nhưng cũng không hỏi thêm. Tình cờ, cô bé giúp việc kể, lâu nay bà tham gia câu lạc bộ, được cô nhân viên công ty kia gọi là “mẹ”, tâm sự gia đình khó khăn, có con tật nguyền,… Ngoài việc hỗ trợ các cụ sử dụng máy cao tần miễn phí, cô mời các cụ mua nhiều sản phẩm khác.

Chiếc nồi cơm điện mẹ tôi mua từ cô nhân viên “tội nghiệp” kia là loại nồi do Trung Quốc sản xuất, giá 1.050.000 đồng. Tôi tra trên mạng thì sản phẩm này được bán 680.000 đồng. Ngoài ra, mẹ tôi còn mua của cô hai gói “Trường sinh bất lão” với giá hơn một triệu đồng. Đây là một gói cây cỏ và vài vị thuốc đông y, được giới thiệu thành phần “100% thảo dược thiên nhiên”. Công dụng ghi trên vỏ bao của nó, tôi chưa thấy ở bất kỳ sản phẩm nào: phòng chống ung thư, chữa các bệnh nan y như bệnh tiểu đường, cao huyết áp, hỗ trợ điều trị các khối u, u não, u xơ tử cung, u xơ tiền liệt tuyến, u dạ dày, u phổi, u thận và một số loại u khác, cân bằng huyết áp, phòng chống suy thận, bệnh dạ dày, đại tràng. Nhiều công dụng thế, song bao bì hoàn toàn không có thông tin về địa chỉ của công ty, giấy phép của sản phẩm và chứng nhận về an toàn vệ sinh.

Tôi cố gắng tìm kiếm trên mạng, không có thông tin chính thức nào về công ty bán sản phẩm, còn công ty sản xuất thảo dược trên thì đã ngừng hoạt động từ năm 2011.

Số tiền 510.000 đồng là giá rất vô lý cho một gói lá cây với những thành phần không rõ nguồn gốc. Mẹ tôi kể cô ấy ngày nào cũng tỷ tê hỏi han với các cụ, đã có rất nhiều “hội viên câu lạc bộ” mua sản phẩm của công ty kia. Tôi tìm hiểu thì biết, công ty đó đang tổ chức nhiều “câu lạc bộ” khác ở các nơi trong thành phố Hà Nội, mỗi câu lạc bộ trung bình có vài chục thành viên tham gia. Tôi còn giật mình vì hiện tượng này đang diễn ra rất phổ biến không chỉ ở thành phố lớn mà còn các tỉnh như Phú Thọ, Hưng Yên, Hải Dương, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế… ngay trước mắt các cơ quan công quyền. Nhiều câu lạc bộ thuê luôn trụ sở nhà văn hóa, trạm y tế xã, phường để hoạt động. Công thức chung là họ mời người cao tuổi, cựu chiến binh… đi tham gia những chuyến du lịch miễn phí trong ngày và tặng một số thiết bị chăm sóc sức khỏe cơ bản, sau đó khéo léo giới thiệu và bán những sản phẩm kém chất lượng, không rõ nguồn gốc với giá trên trời.

Dịp cuối năm này, nạn hàng giả, hàng kém chất lượng lại hoành hành, như mọi năm. Thực ra, không riêng cuối năm, mà nó vẫn diễn ra suốt nhiều năm, với nhiều hình thức. Vấn đề là ở chỗ không phải vì chúng ta thiếu quy định để xử lý vấn đề.

Điều 10, Nghị định 43, ban hành năm 2017 về nhãn hàng hóa đã quy định “các nội dung bắt buộc phải thể hiện trên nhãn hàng hóa”, gồm: tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa, xuất xứ hàng hóa, các nội dung về tính chất của mỗi loại mặt hàng. Điều 8, khoản 2, Luật Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng năm 2010 còn nêu rõ người tiêu dùng “được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng”.

“Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lừa dối hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che giấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác” là hành vi bị cấm. Bộ Công thương là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Còn ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương.

“Bất cân xứng thông tin” là khái niệm được ra đời những năm 1970, đem lại Giải Nobel Kinh tế cho ba tác giả của nó: George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz. Thuật ngữ dùng để mô tả việc các bên tham gia giao dịch không nắm được những thông tin giống nhau về giá trị hoặc chất lượng của hàng hóa được giao dịch. Hệ quả là giá cả thương vụ bị đẩy quá thấp hoặc quá cao. Sự bất cân xứng thông tin gây ra những lựa chọn bất lợi cho một bên, hoặc các rủi ro đạo đức, các hiện tượng lừa đảo. Nó có thể còn là việc tung tin đồn gây hại cho người khác, và cả thông tin giả trên truyền thông.

Những người già nhẹ dạ, trong đó có mẹ tôi, đã ở trong một tình huống tương tự. Nhà sản xuất và phân phối đã phớt lờ các quy định của pháp luật về nhãn mác, thông tin sản phẩm và tiêu chuẩn chất lượng để bán hàng với sự nhập nhèm và bất tuân, cố tình tạo ra sự lầm tưởng của người mua.

Giải pháp chấm dứt việc bất cân xứng thông tin, theo lý thuyết trên, chính là sự bù đắp thông tin thiếu hụt từ các bên bao gồm việc áp đặt các chế tài luật pháp. Nhưng ở đây,  việc thực thi chế tài giám sát và quản lý thị trường của ngành Công thương, các nhà quản lý thị trường, cán bộ địa phương, ủy ban nhân các cấp chưa được lấp đầy. Đặc biệt với những nhóm người vốn nhẹ dạ, ít va chạm xã hội, họ luôn thường thực ở thế bất đối xứng thông tin.

Trông chờ một “tháng hành động” đợt cuối năm này?

Tác giả: Đào Quang Minh

Bản quyền: VnExpress

One Comment

Khóa bớt van để bia rượu đừng “chảy” tràn lan

Trốn cái nóng oi ả ngoài đường, bước vào cửa hàng tiện lợi 7-Eleven bên đường Sukhumvit, Bangkok (Thái Lan), tôi lựa nhanh mấy lon bia và đưa cho cô bé thu ngân. Cô lịch sự chỉ lên chiếc đồng hồ treo tường đang chỉ 2 giờ 15 chiều và nói với giọng tiếng Anh lơ lớ: “Chúng tôi không bán bia giờ này”. Tôi ngớ người không hiểu tại sao khi giữa ban ngày mà bị từ chối bán bia. Tôi rời khỏi cửa hàng với cảm giác không thoải mái. Để giải tỏa cơn khát, tôi phải đi đi bộ một quãng xa, vượt qua một dãy các kios bán áo phông Thái và đồ lưu niệm mới tìm được một nhà hàng bán đồ ăn phương Tây, nơi tôi có thể gọi một chai bia Singha với một ít snack để nhâm nhi và suy ngẫm về sự bất tiện vừa trải qua.

Khi có thời gian tìm hiểu tôi mới biết quy định này do Chính phủ Thái Lan đặt ra, theo đó các cửa hàng, siêu thị không được bán đồ uống có cồn trong thời gian từ 2-5 giờ chiều hàng ngày. Lý do, Chính phủ Thái muốn hạn chế việc trẻ em, đặc biệt là học sinh trung học có thể mua đồ uống có cồn, với lập luận là 2 giờ chiều là giờ sớm nhất mà học sinh tan trường và 5 giờ chiều là thời điểm mà học sinh đã về nhà với cha mẹ. Cấm bán bia rượu vào giờ đó sẽ hạn chế được khả năng học sinh và những bạn trẻ mua loại đồ uống này.

Điều này quả là trái ngược với Việt Nam khi rượu bia được bán và uống tràn lan ở khắp nơi, nhất là rượu tại các vùng nông thôn. Bước vào nhà nào bạn cũng có thể được mời uống rượu hoặc bia. Công việc trước đây cho tôi cơ hội đi đến nhiều vùng nông thôn và miền núi trong cả nước, đi đến đâu tôi cũng được mời uống rượu. Đối với những người có tửu lượng kém, đây là một cực hình. Mời uống rượu được xem là thể hiện sự hiếu khách của chủ nhà khi có khách đến thăm hay làm việc. Với người ở vùng cao, từ chối uống rượu thể hiện sự thiếu nhiệt tình và không hòa đồng. Sau khi uống rượu, thậm chí bị say, câu chuyện và mối quan hệ trở nên gần gũi hơn. Nhiều đồng nghiệp của tôi biết chuyện này nhưng cũng đành phải chấp nhận và coi như một rủi ro nghề nghiệp.

Rượu là đồ uống được ưa thích ở nông thôn và miền núi. Mỗi vùng miền lại có những loại rượu đặc sản khác nhau, chủ yếu được nấu thủ công từ gạo, ngô hoặc sắn. Có những loại rượu đã khá nổi tiếng nhưng phần lớn vẫn là các loại rượu không rõ nguồn gốc, không nhãn mác, không đăng ký theo bất kỳ tiêu chuẩn chất lượng nào. Uống những loại rượu này, thực chất người dùng phó thác sự tin tưởng vào người cung cấp rượu. Trong trường hợp bị ngộ độc thì nạn nhân cũng phải ráng chịu mà không biết kêu ai.

Ở các đô thị, bia rượu cũng được bán tràn lan. Ở Hà Nội hay TPHCM, cứ một đoạn lại thấy một quán bia hoặc quán nhậu đông đúc và ồn ào, hoạt động từ trưa đến đêm khuya. Khách hàng thì đủ độ tuổi: thanh niên, trung niên, người cao tuổi. Người ta đi nhậu vì đủ thứ lý do như giao lưu, thư giãn sau giờ làm việc, gặp gỡ bạn bè, bàn bạc công việc. Vui đi nhậu và buồn cũng đi nhậu. Khác với một số nước khác, văn hóa Việt Nam rất cởi mở đối với việc đi nhậu. Tôi có một số đồng nghiệp người Bangladesh, mỗi lần sang Việt Nam công tác lại tranh thủ đi nhậu vì tại quê hương họ bia rượu không được bán ở nơi công cộng.

Trong số những người vào quán nhậu có rất nhiều người còn rất trẻ, họ hồn nhiên mặc nguyên đồng phục của trường, ngồi nhậu và trò chuyện rôm rả. Nghiên cứu của trường Đại học Y tế công cộng cho thấy 44% học sinh Việt Nam uống cốc rượu bia đầu tiên trước 14 tuổi, 22,5% uống say ít nhất một lần; 80% nam vị thành niên và thanh niên uống rượu bia, tỷ lệ này là 36% đối với nữ.

Gánh nặng xã hội

Với dân số hơn 96 triệu người, Việt Nam là thị trường tiềm năng và mang đến lợi ích kinh tế khổng lồ cho các nhà sản xuất đồ uống có cồn, do vậy rất nhiều nhãn hiệu rượu bia có tiếng trên thế giới đều có mặt ở Việt Nam, như Heineken, SABMiller, Carlberg… Các hãng bia lớn từ châu Á như Kirin, Asahi, Asia Pacific Breweries, Thai Beverage và Singha cũng đang cạnh tranh quyết liệt để giành thị phần tại Việt Nam. Như báo chí đã đưa tin, cuối năm ngoái, ThaiBev đã chi gần 5 tỉ đô la Mỹ để sở hữu xấp xỉ 54% cổ phần Sabeco – công ty bia vào loại lớn nhất Việt Nam. Và rồi ngày 30-10 vừa qua, Hội đồng quản trị của Sabeco đã ban hành nghị quyết thông qua việc không hạn chế tỷ lệ nhà đầu tư nước ngoài tại công ty này, đồng nghĩa với việc Sabeco có thể trở thành công ty 100% vốn nước ngoài.

Tuy nhiên lợi nhuận kinh tế của doanh nghiệp không song hành với lợi ích về y tế và kinh tế cho xã hội.

Theo dõi kỳ họp Quốc hội mới đây, trong tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Phòng chống tác hại của rượu bia, Bộ trưởng Bộ Y tế đã cho biết, năm 2017, người dân tiêu thụ khoảng 305 triệu lít rượu, tương đương 72 triệu lít cồn và gần 4,1 tỉ lít bia, tương đương với 161 triệu lít cồn. Bình quân mỗi người dân tiêu thụ khoảng 42 lít bia. Việt Nam là nước tiêu thụ bia cao nhất Đông Nam Á và thứ 3 châu Á sau Nhật Bản, Trung Quốc. Năm 2017, chi phí của người dân Việt Nam cho tiêu thụ chỉ riêng đối với bia là gần 4 tỉ đô la Mỹ.

Ước tính tổng gánh nặng trực tiếp của sáu bệnh ung thư mà rượu, bia là một trong những nguyên nhân đã là gần 26.000 tỉ đồng chiếm 0,5% tổng GDP năm 2017; chi phí giải quyết hậu quả của tai nạn giao thông liên quan đến rượu, bia chiếm tới 1% GDP (khoảng 50.000 tỉ đồng theo GDP năm 2017).

Theo thông tin từ Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), năm 2017 đã có 22/63 tỉnh, thành phố có xảy ra các ca ngộ độc rượu (chiếm 34,9%). Năm 2017 số ca ngộ độc rượu tăng đột biến, đặc biệt là rượu có pha methanol, với 10 vụ và 119 người mắc, 115 người đi viện. Có những vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng như vụ ngộ độc tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xảy ra ngày 13-2-2017 khiến 9 người tử vong.

Nghiên cứu của Học viện Cảnh sát tại 11 tỉnh vào năm 2015 cho thấy đến 70% vụ phạm pháp hình sự liên quan đến uống rượu, bia ở người chưa tới 30 tuổi. Học sinh uống rượu bia dẫn đến hàng loạt vấn đề xã hội như nghỉ học, ẩu đả, mâu thuẫn với gia đình, bạn bè, có hành vi tình dục không an toàn… Uống rượu bia ở học sinh gây hậu quả nghiêm trọng về phát triển cơ thể hơn so với người lớn do não bộ tiếp tục phát triển đến tuổi 25. Uống rượu bia sớm, não càng dễ bị tổn thương và nguy cơ cao bị nghiện.

Rượu bia mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các tập đoàn sản xuất rượu bia, do vậy cũng dễ hiểu nếu có những hoạt động vận động hành lang để dự thảo luật tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp rượu bia. Tuy nhiên các gánh nặng về y tế, chi phí xử lý hậu quả của rượu bia cũng như hệ lụy của nó đến với thế hệ trẻ là nhãn tiền mà các nhà lập pháp cần quan tâm đúng mức.

Dự thảo Luật Phòng chống tác hại của rượu bia còn những điều khoản đang được cân nhắc, tuy nhiên các ý kiến ủng hộ cho rằng Quốc hội nên thông qua dự luật với các giải pháp rõ ràng, quyết liệt hơn trong việc quản lý sản xuất, tiêu thụ rượu bia; có các biện pháp nhằm giảm cầu và hạn chế sự dễ tiếp cận, như áp thuế, không bán rượu bia cho những độ tuổi và khung giờ nhất định, hạn chế tiếp thị…, để từng bước thu hẹp việc lạm dụng rượu bia trong giới trẻ.

Tác giả: Đào Quang Minh

Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 49 – 2018

Bản quyền: Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Leave a Comment