Skip to content →

Tag: TBKTSG

Bầy vượn đen và nỗi lo tuyệt chủng

Vượn đen má trắng Siki (Ảnh: EPRC)

Tôi gặp Hiếu, chàng thanh niên vừa về sau một chuyến khảo sát vượn đen má trắng Siki (Nomascus Siki) tại các cánh rừng ở tỉnh Quảng Bình. Hiếu và các đồng nghiệp đã trải qua 31 ngày lặn lội, ăn ở trong rừng già thâm u.

Hiếu làm việc cho một tổ chức bảo tồn động vật hoang dã và đa dạng sinh học. Một trong những hoạt động của Hiếu là tham gia các cuộc nghiên cứu để đánh giá tình trạng hiện có của một số loài động vật hoang dã đang ở trong tình trạng rất nguy cấp và có nguy cơ tuyệt chủng, trong đó có vượn đen má trắng siki. Chuyến khảo sát vừa qua là sự tiếp nối của chuỗi nghiên cứu đang được thực hiện nhiều năm mà đợt đầu tiên đã được tiến hành vào năm 2016 cũng tại tỉnh Quảng Bình.

Vượn đen má trắng siki là loài linh trưởng chỉ có ở Việt Nam và Lào, được xếp hạng rất nguy cấp (CR) trong Danh lục đỏ của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) và được luật pháp Việt Nam bảo vệ theo Nghị định 06/2019/ NĐ-CP của Chính phủ. Loài này cư trú tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị, nhưng tập trung chủ yếu ở tỉnh Quảng Bình. Quần thể loài đang phải đối mặt với nguy cơ suy giảm số lượng nghiêm trọng do mất môi trường sống hoặc môi trường sống bị nhiễu loạn do các hoạt động khai thác gỗ, săn bắn và thu hái lâm sản ngoài gỗ.

Kết quả nghiên cứu do Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên Việt  công bố năm 2019 chỉ ra rằng khu vực đa dạng sinh học trọng điểm Trường Sơn (nằm ở phía Tây Nam tỉnh Quảng Bình, giáp với biên giới Việt Nam – Lào) có số lượng quần thể vượn đen má trắng siki lớn nhất tại Việt Nam, với 347 đàn, trung bình mỗi đàn có từ 2-3 cá thể, tổng số chỉ có khoảng 1.000 cá thể.

Vượn đen má trắng siki thường sống ở các khu rừng kín thường xanh, liên tục di chuyển trên các tán cây cao. Chúng rất nhạy cảm với sự hiện diện của con người, vì vậy việc ghi nhận hình ảnh và đếm số lượng rất khó khăn. Tuy nhiên, có thể phát hiện được loài này thông qua tiếng hót to và dài của chúng, do đó các nhà nghiên cứu phải sử dụng phương pháp khảo sát dựa trên tiếng hót với sự hỗ trợ của máy ghi âm chuyên dụng. Vượn đen má trắng siki có tập tính hót vào lúc sáng sớm, nên đoàn nghiên cứu phải dậy từ 2-3 giờ sáng, khi trời vẫn còn tối, từ lán tạm lặng lẽ băng rừng đi đến địa điểm nơi có thể có các đàn vượn. Những cánh rừng già với dây leo chằng chịt, không có đường mòn, nên đoàn nghiên cứu phải lựa thế, phát dây leo và bụi cây để tạo lối đi.

Nguy cơ tuyệt chủng đang đến rất gần với nhiều loài động vật hoang dã do nạn săn bắn, chặt phá rừng trái phép và chuyển đổi đất rừng sang các mục đích nông nghiệp và thương mại. Báo cáo của Liên hiệp quốc (2019) cho thấy khoảng một triệu loài động thực vật hiện đang bị đe dọa tuyệt chủng. Hơn 40% các loài lưỡng cư, gần 33% san hô tái sinh và hơn một phần ba số động vật có vú ở biển đang bị đe dọa. Ít nhất 680 loài động vật có xương sống đã bị tuyệt chủng kể từ thế kỷ 16 và hơn 9% tổng số loài động vật có vú được thuần hóa dùng làm thực phẩm và trong nông nghiệp đã bị tuyệt chủng vào năm 2016; ít nhất 1.000 loài khác vẫn đang bị đe dọa.

Các nước phương Tây đã trải qua những quá trình “hủy diệt” nói trên do tác động của việc khai thác tài nguyên phục vụ công nghiệp nên giờ đây họ ý thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc bảo tồn động vật hoang dã. Do vậy, rất nhiều quỹ bảo tồn, hiệp hội bảo vệ động vật hoang dã ra đời để thực hiện sứ mệnh này, trong số đó có những tổ chức đang hiện diện tại Việt Nam.

Con số 347 đàn vượn gồm khoảng 1.000 cá thể là toàn bộ số lượng mà các nhà nghiên cứu đã khảo sát được trong giai đoạn 2016-2019. Dù số lượng ghi nhận được khá hạn chế nhưng dù sao vẫn còn là lạc quan. Bởi, kết quả đợt nghiên cứu năm nay tại khu vực huyện Minh Hóa và Tuyên Hóa của tỉnh Quảng Bình ghi nhận thấp hơn nhiều. Các nhà nghiên cứu đang đi tìm lời lý giải cho kết quả đáng buồn này, nhưng một giả thuyết đặt ra là tình trạng săn bắn trái phép vẫn diễn ra khiến số lượng cá thể vượn giảm đi nhanh chóng.

Nếu không được bảo tồn mạnh mẽ và hiệu quả thì chỉ trong một vài thập niên nữa vượn đen má trắng siki cũng như nhiều loài khác sẽ chỉ còn được nhắc đến qua sách báo, tài liệu.

Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 46-2020, ngày 12/11/2020. Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền.

Leave a Comment

Làm việc cho công ty Nhật: Con đường không trải hoa anh đào

Ảnh: Tetsushi Suzuki

(TBKTSG) – Tôi khá bất ngờ khi đọc báo cáo mới đây về tuyển dụng và văn hóa doanh nghiệp tại công ty Nhật Bản của Navigos-công ty chuyên về dịch vụ tư vấn tuyển dụng nhân sự. Báo cáo cho thấy 77% số ứng viên tham gia khảo sát đã bình chọn công ty Nhật là doanh nghiệp châu Á có môi trường làm việc được yêu thích nhất. Bên cạnh đó, hơn một nửa số ứng viên tham gia khảo sát cũng chia sẻ họ đang tìm kiếm công việc tại doanh nghiệp Nhật trong thời gian tới. Con số này cao hơn rất nhiều so với các nước khác trong khu vực như Singapore chỉ là 11%, Việt Nam là 4%, và Hàn Quốc cũng chỉ đạt 1,7% số người được hỏi.

Lý do chính khiến doanh nghiệp Nhật được đánh giá hấp dẫn đối với họ là vì được “rèn luyện thái độ và phong cách làm việc chuẩn mực”, có “môi trường chuyên nghiệp” và cũng là nơi có “chế độ lương thưởng và phúc lợi hấp dẫn”.

Là người đang làm việc cho một công ty liên doanh có cổ phần chi phối của Nhật Bản, tôi phần nào hiểu được vì sao những người được khảo sát có nhìn nhận như vậy. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi muốn chia sẻ một số trải nghiệm về môi trường làm việc trong doanh nghiệp Nhật Bản từ góc nhìn người trong cuộc để độc giả, đặc biệt là các bạn trẻ, có thêm thông tin khi quyết định nộp hồ sơ tìm việc tại các công ty Nhật Bản.

Chăm chỉ, tinh thần kỷ luật cao

Tôi được mời làm việc cho công ty liên doanh với Nhật Bản cách đây hơn ba năm. Lúc đó tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng Nhật Bản là một trong những quốc gia phát triển hàng đầu thế giới với GDP cao, có các sản phẩm điện tử, ô tô… mang các thương hiệu tầm cỡ thế giới. Nhật Bản đã vươn lên từ đống đổ nát của Thế chiến thứ hai để trở thành một cường quốc nên chắc họ phải có những bí quyết thần kỳ hoặc có những tiến bộ đáng để học hỏi. Đây cũng là công ty thuộc loại có vốn đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, nên không suy nghĩ nhiều, tôi nhận lời làm việc cho công ty này.

Sau một thời gian làm việc, một số điều trước đây tôi đã được chia sẻ hoặc đọc trên báo chí về cách làm việc của người Nhật tỏ ra khá chính xác: làm việc chăm chỉ, đúng giờ và có tinh thần kỷ luật thép.

Người Nhật làm việc rất chăm chỉ và nghiêm túc. Họ đến văn phòng từ rất sớm, thường là 7 giờ sáng và ngồi lại làm việc muộn, thường là 19 giờ, thậm chí muộn hơn. Họ có ý thức và nghiêm túc thực hiện việc tiết kiệm tài nguyên công ty và tuân thủ quy định về an toàn. Ông sếp cũ người Nhật của tôi luôn là người đầu tiên đến và là người cuối cùng rời khỏi văn phòng. Trước khi về ông luôn kiểm tra từng chiếc điều hòa, quạt, thậm chí ổ cắm nối với công tắc đã được tắt hay chưa. Ông luôn quan tâm đến quy định của công ty và vấn đề vệ sinh. Nếu không may ai đó quên rửa cốc uống nước và để vào đúng nơi quy định thì ngày hôm sau nơi đầu tiên may ra họ có thể tìm thấy chiếc cốc tội nghiệp của mình là thùng rác.

Làm việc với người Nhật thì việc đúng giờ cần được tính theo từng giây, từng phút. Tôi hầu như không thấy người Nhật đến muộn trừ khi có lý do chính đáng. Chỉ cần lái xe đến đón muộn hai phút, ông sếp của tôi đã gửi e-mail đến nhà thầu cung cấp xe để phản ánh sự chậm trễ của tài xế.

Ý thức về việc công và việc tư rất rõ ràng đối với người Nhật. Tôi nhớ rất rõ, Tết Nguyên đán năm 2017, khi toàn thể nhân viên công ty được nghỉ lễ, thì sáng mùng 1 Tết, ông sếp của tôi vẫn gọi xe để đi kiểm tra khu vực quanh nhà máy như thường lệ trước sự ngỡ ngàng của người lái xe vì phải tức tốc bắt taxi từ quê cách đó 60 cây số đến để phục vụ. Thậm chí khi gia đình có việc tang, ông về nước và quay trở lại làm việc trong thời gian rất ngắn, tuyệt nhiên không để vấn đề gia đình ảnh hưởng đến công việc.

Người Nhật có văn hóa trung thành với công ty. Có nhiều đồng nghiệp người Nhật mặc dù tuổi đã cao, nhiều người chuẩn bị về hưu, nhưng khi sang Việt Nam họ vẫn chỉ được giao những công việc tương đối đơn giản, và họ vẫn cần mẫn làm việc. Chúng tôi thường tự hỏi tại sao họ có thể nhẫn nại làm những việc như vậy.

Những trải nghiệm khác

Sau những điều khâm phục, tôi bắt đầu được trải nghiệm những vấn đề mà tôi hiếm khi gặp phải khi làm việc cho các công ty phương Tây nhưng lại rất phổ biến ở công ty Nhật Bản.

Cứng nhắc và chi tiết: Trước đây khi làm việc cho các công ty và tổ chức châu Âu tôi quen với phong cách làm việc linh hoạt, chủ yếu tập trung vào kết quả đầu ra. Nhưng đối với công ty Nhật, các đồng nghiệp của tôi đều đi vào các vấn đề tiểu tiết. Phần lớn nội dung công việc nếu có bình luận qua lại đều phải sử dụng chế độ “track change” để thể hiện những thay đổi trong nội dung. Kết quả là sau một vài vòng trao đổi và góp ý, tài liệu đã trở nên hỗn độn rất khó theo dõi.

Lạm dụng e-mail: E-mail là phương tiện làm việc chưa thể thay thế trong môi trường văn phòng, tuy nhiên những năm gần đây các nghiên cứu và phân tích đều chỉ ra rằng việc lạm dụng e-mail sẽ làm giảm năng suất, lãng phí thời gian và làm xơ hóa mối quan hệ giữa con người với con người.

Xu hướng của các doanh nghiệp phương Tây hiện nay đang giảm thiểu e-mail và sử dụng các công cụ mang tính tương tác cao và hiệu quả hơn như Slack, Asana. Điều này hoàn toàn đối nghịch với công ty tôi làm việc, từ việc lớn đến việc nhỏ đều được gửi qua e-mail. Hàng loạt người không liên quan trực tiếp nhưng vẫn được “cc” trong e-mail trả lời mà không có nội dung gì ngoài việc “cảm ơn” hoặc “tôi đã ghi nhận vấn đề này”. Mỗi ngày tôi nhận được hàng trăm e-mail các loại, một phần ba trong số đó là các e-mail dạng này, một phần ba là e-mail không liên quan mà chỉ được gửi ở dạng chia sẻ thông tin.

Sợ trách nhiệm và tuân lệnh cấp trên: Chưa ở đâu tôi thấy hệ thống thứ bậc thể hiện rõ ràng như công ty Nhật. Mọi việc trong công ty đều được thực hiện chặt chẽ theo ý kiến của lãnh đạo, một khi lãnh đạo đã có ý kiến hoặc đã quyết thì cấp dưới về cơ bản chỉ có việc thực thi. Rất ít khi tôi được nghe ý kiến phản biện sau khi lãnh đạo đã có ý kiến.

Nhưng Nhật Bản cũng không phải là quốc gia duy nhất có văn hóa như vậy, tôi được biết một số công ty của Hàn Quốc mà tôi có dịp làm việc cùng cũng có văn hóa làm việc tương tự.

Thiếu sáng tạo và đầy áp lực: Mọi công việc đều được thực hiện theo quy trình, mọi thứ cứ theo quy trình để làm, hầu nhưng không có không gian và điều kiện cho những sáng tạo từ nhân viên. Hầu như không có không gian cho cho sự ngẫu hứng và sáng tạo. Sự cân bằng giữa cuộc sống và công việc không tồn tại trong môi trường làm việc của Nhật.

Với thời gian làm việc dài nên ông sếp vào loại to của công ty tôi thường ngủ gật trong các cuộc họp do ông chủ tọa. Đồng nghiệp người Nhật cho biết áp lực công việc của họ tại quê nhà còn cao hơn nhiều. Điều này phần nào có thể lý giải vì sao trong những năm vừa qua Nhật Bản luôn là nước có tỷ lệ tự tử cao hàng đầu thế giới.

Làm việc là để phục vụ cuộc sống, với tâm niệm như vậy nên nếu có sự lựa chọn trong tương lai, công ty Nhật sẽ không phải là ưu tiên của tôi. 

Tác giả: Đào Quang Minh

Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài gòn ngày 25/10/2018. Thời báo Kinh tế Sài Gòn giữ bản quyền.

One Comment

Chuyển mạng giữ số

Ảnh: Matt Antonioli

Cả buổi cà phê cuối tuần rồi ở Nghĩa Tân, cậu bạn từ hồi cấp ba xả với tôi bực dọc về một nhà mạng.

H.A, đang điều hành công ty vận tải của gia đình, đã sử dụng thuê bao di động của một nhà mạng lớn 15 năm. Bạn tôi thích “phượt” vùng cao, vùng sâu mỗi tháng một, hai lần. Vấn đề là mạng di động anh sử dụng thường mất sóng khi lên núi Hà Giang hay vào bản xa, không thể gọi điện xử lý công việc ở nhà. Khi biết ba nhà mạng lớn chính thức áp dụng dịch vụ chuyển mạng giữ số, H.A hăm hở đến điểm giao dịch để làm thủ tục chuyển mạng. Tiết kiệm thời gian, anh đã đọc kỹ hướng dẫn, điền đăng ký online từ nhà trước khi đến giao dịch – nhà mạng không tiếp nhận xử lý từ xa.

“Vì sao anh lại muốn rời mạng?”, nhân viên hỏi. “Anh hay đi công tác vùng xa, thường bị mất sóng”, H.A đáp. “Bên em cũng đang có kế hoạch cải thiện vùng phủ sóng, trong thời gian tới anh sẽ thấy vùng phủ sóng của bên em tốt hơn”, cô nhân viên tiếp. “Ừ, nhưng anh vẫn muốn chuyển, anh không đợi được, công việc bị ảnh hưởng nhiều quá”, bạn tôi ngồi chờ. Không thuyết phục được khách, cô miễn cưỡng đưa tờ khai để anh đăng ký chuyển đổi mạng. Bạn tôi ra về.

Hôm sau, anh nhận được tin nhắn từ Trung tâm chuyển mạng quốc gia thông báo yêu cầu của khách hàng bị sai, đề nghị anh liên hệ với nhà mạng cũ để hoàn thiện thủ tục. Thông báo không nói rõ anh bị sai chi tiết gì. Liên hệ nhà mạng cũ, họ nói thông tin chứng minh thư bị sai, anh phải ra cửa hàng ủy quyền hoặc điểm giao dịch của nhà mạng để hoàn thiện thủ tục. Anh đến một cửa hàng ủy quyền ở khu vực quận Cầu Giấy, điền thông tin theo yêu cầu. Tưởng đã xong, hai ngày sau anh lại nhận được một tin nhắn từ Trung tâm chuyển mạng thông báo yêu cầu của anh không thành công với lý do tương tự như lần trước. Anh lại tiếp tục ra cửa hàng ủy quyền để cung cấp thông tin, lần này họ nói “địa chỉ trên hộ khẩu không khớp”. Lần thứ ba, thông báo chưa đủ điều kiện chuyển mạng và được yêu cầu hoàn thiện thông tin vì mã khách hàng không khớp. Tổng cộng, vì một tờ khai, anh phải đến cửa hàng ủy quyền ở khu vực Cầu Giấy ba lần, mỗi lần mất ít nhất hai tiếng trong giờ làm việc cho cả thời gian đi lại và chờ đến lượt giao dịch với nhân viên.

Chưa kể, từ hôm đó, ngày nào anh cũng nhận được cuộc gọi của tổng đài nhà mạng hỏi về lý do tại sao muốn rời mạng. Ban đầu bạn tôi cảm kích vì thấy nhân viên cố gắng quan tâm khách, nhưng sau đó chuyển sang mệt mỏi vì câu hỏi lặp đi lặp lại suốt mấy ngày. Cuối cùng, khi thấy anh cương quyết rời mạng, nhân viên tổng đài không còn giữ giọng nhẹ nhàng như ban đầu, lạnh lùng cảm ơn rồi cúp máy cái rụp.

Quá bực mình, anh gọi lại tổng đài, nói rõ mình đang ghi âm lại cuộc gọi, đề nghị nhân viên tổng đài cho biết mã số nhân viên và trả lời câu hỏi. Ngoài ra, anh quay clip khi đến điểm giao dịch để làm bằng chứng. Sau gần hai tháng mệt mỏi vì mất rất nhiều thời gian và công sức cho việc chuyển mạng, mối thiện cảm với nhà mạng hoàn toàn biến mất, thậm chí bạn tôi tiếc rằng mình đã tin tưởng và sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp này lâu như vậy.

Chuyển mạng giữ số là một dịch vụ phố biến không chỉ ở những nước tiên tiến mà ở cả những nơi ngành viễn thông chưa phát triển mạnh như Châu Phi. Hồi đi học tại Anh cách đây cả chục năm, tôi có thói quen nhìn số điện thoại để xem đó là của nhà mạng nào, nhưng tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng đầu số không cố định theo một nhà mạng nào. Cùng một thuê bao khách hàng đăng ký ban đầu, nhưng dịch vụ được cung cấp bởi các công ty viễn thông khác nhau tùy địa bàn và nhu cầu của người dùng.

Nhiều năm qua tại Việt Nam, do cơ chế thay đổi nhà mạng là phải đổi số liên lạc nên có những người tuy không hài lòng với nhà mạng nhưng ngại đổi số điện thoại vì đã trót sử dụng nhiều năm, sợ thất lạc những mối quan hệ cần thiết nên chấp nhận ở lại. Chuyển mạng giữ số là bước ngoặt mở ra một trang mới trong mối quan hệ giữa khách hàng và nhà mạng, tạo cạnh tranh công bằng hơn trên thị trường viễn thông. Nhà cung cấp nào làm tốt hơn sẽ thu hút nhiều người dùng hơn. Sự dịch chuyển của người dùng trở thành tiếng nói uy quyền thay vì thứ yếu như trước. Cơ chế mới này cũng mở ra cơ hội cho nhà mạng nhỏ hơn nhưng nếu cung cấp dịch vụ chất lượng hơn sẽ vẫn sống khỏe, khuyến khích các nhà mạng cạnh tranh sòng phẳng về chất lượng phục vụ và mở rộng vùng phủ sóng.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy trung bình ở đa số thị trường, có khoảng 5% lượng khách hàng chuyển mạng. Tỷ lệ này không nhiều và có thể chấp nhận được.

Vấn đề đang xảy ra với các nhà mạng tại Việt Nam, là cách ứng xử với khách hàng. Không riêng cậu bạn nối khố của tôi, hàng chục người quen, đồng nghiệp khác cũng phàn nàn về sự khó chịu khi bị nhân viên các nhà mạng níu kéo dai dẳng đến mức gây phiền hà. Người ta thường ra đi thử trước khi ra đi thật. Một thiểu số nhà mạng đang tạo ra những rào cản về thủ tục để làm khách hàng thay đổi, hay những gói khuyến mãi kèm với cam kết sử dụng dịch vụ trong khoảng thời gian dài để “trói chân” khách. Song tôi chưa thấy ai, vì sự níu kéo đó mà “nản chí” rồi ở lại. Những ngày này, chúng ta không khó thấy các chia sẻ trên mạng xã hội về ứng xử của một số nhà mạng. Thử hỏi những ai nghe bạn tôi kể lại trải nghiệm ở trên, còn thiết tha với nhà mạng đó?

Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc triển khai chuyển mạng giữ số của các nhà mạng Việt Nam trong giai đoạn thử nghiệm (từ 16/11/2018 đến 13/2/2019) cho hay, tỷ lệ chuyển đi khỏi mạng thành công của Mobifone là 23,09%, Viettel là 83,56% và Vinaphone ở mức 68,28%. Số liệu cũng cho biết các nhà mạng lớn đều mất đi một lượng khách hàng, nhưng ngược lại, họ cũng tiếp nhận được một lượng khách hàng mới từ đối thủ cạnh tranh. Cụ thể, VinaPhone có 35.688 thuê bao đăng ký chuyển đến, Viettel nhận thêm 46.961 và Mobifone nhận thêm 9.940 thuê bao.

“Ngăn sông, cấm chợ” có lẽ không còn là cách tư duy kinh doanh hợp thời, nhất là khi ngành viễn thông đang đối mặt với các dịch vụ thông tin, liên lạc miễn phí kèm theo vô số hình thức sáng tạo mà chúng ta chưa biết hết của nền kinh tế số hóa đang ập tới.

Nhìn rộng hơn, các quy định đối xử với người dùng trên thị trường viễn thông có lẽ cần xây dựng chi tiết, minh bạch, sòng phẳng và công khai rộng khắp với người dùng ở một thị trường sắp chạm 100 triệu dân. Tốt hơn nữa, tôi tin các chính sách nhằm giảm bớt sự đậm đặc của độc quyền viễn thông – dù dưới hình thức nào – cũng cần được xem xét và hóa giải. Người dân và nền kinh tế sẽ hưởng lợi lớn hơn nhiều nếu xa lộ thông tin được thông thoáng.

Tác giả: Đào Quang Minh

Ghi chú: đây là nguyên gốc của bài viết Các nhà mạng viễn thông không khéo sẽ mất khách hàng được đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 11/2019, ngày 14 tháng 3 năm 2019

Bản quyền: Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Leave a Comment

Đừng lơ là trách nhiệm xã hội doanh nghiệp!

Ảnh: Carlos Grury Santos/Unsplash

(TBKTSG) – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là một yêu cầu đang được đặt ra ngày càng cao trong xu hướng phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Song, trên thực tế cũng còn không ít doanh nghiệp trong nước chưa hiểu rõ sự cần thiết cũng như chưa quan tâm đến việc thực hiện CSR như một đòi hỏi tự thân.

Có nhiều cách hiểu khác nhau về CSR. Ngân hàng Thế giới (WB) định nghĩa CSR là “cam kết của doanh nghiệp trong việc đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế bền vững, làm việc với các nhân viên, gia đình họ, cộng đồng địa phương và xã hội để cải thiện chất lượng cuộc sống của họ, theo những cách thức vừa tốt cho doanh nghiệp và đồng thời cũng tốt cho sự phát triển”. Trong khi đó, Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế trong ISO 26000:2010 cho rằng, trách nhiệm xã hội là trách nhiệm của một tổ chức đối với các tác động của các quyết định và hoạt động của doanh nghiệp đó lên xã hội và môi trường, thông qua hành vi minh bạch và mang tính đạo đức, góp phần vào sự phát triển bền vững, bao gồm cả sức khỏe và phúc lợi xã hội, quan tâm đến mong muốn của các bên liên quan; là tuân thủ theo pháp luật hiện hành và các tiêu chuẩn quốc tế về hành vi, và kết nối toàn tổ chức và được thể hiện trong các mối quan hệ của tổ chức trong phạm vi ảnh hưởng của mình.

Vì sao cần CSR?

Phần nhiều các tập đoàn nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam thực hiện CSR chủ yếu do được thừa hưởng chính sách, chương trình từ tập đoàn mẹ. Bên cạnh trách nhiệm của doanh nghiệp như các định nghĩa về CSR nói trên, các doanh nghiệp thực hiện các chương trình hướng tới cộng đồng, xã hội còn vì một số lý do. Đầu tiên, là để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế của các bên cho vay. Ví dụ các dự án hoặc các công ty lớn đều đi vay vốn của các định chế tài chính như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, JBIC, KFW… Tất cả định chế này đều áp dụng một số bộ tiêu chuẩn, như bộ tiêu chuẩn thực hiện về phát triển bền vững môi trường và xã hội của Công ty Tài chính quốc tế (IFC) trực thuộc Ngân hàng Thế giới. Bộ tiêu chuẩn này gồm 8 tiêu chuẩn liên quan đến đất đai, sức khỏe, an toàn, môi trường và xã hội…

Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng phải đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Ví dụ, khi gia công giày cho Adidas hay New Balance, các công ty phải tuân thủ các quy định mà khách hàng này đưa ra như không sử dụng lao động trẻ em, đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và các yêu cầu về môi trường. Những yêu cầu này thường được cụ thể hóa trong những bộ quy tắc ứng xử trách nhiệm xã hội như SA 8000.

Thứ hai, thực hiện CSR là chiến lược để các công ty quản lý rủi ro và tạo sự đồng thuận xã hội. Thông thường công ty sẽ đối mặt với hai loại rủi ro chính: (1) rủi ro xã hội – là những rủi ro mà công ty có thể gây ra cho cộng đồng sinh sống xung quanh như tiếng ồn, khói, bụi, cháy nổ; (2) rủi ro công ty – là rủi ro mà cộng đồng sinh sống xung quanh có thể gây ra cho công ty như biểu tình, chặn đường ra vào công ty, phá hoại cơ sở vật chất và tài sản công ty… Thực hiện CSR sẽ giúp doanh nghiệp ngăn ngừa và hóa giải những rủi ro thông qua cung cấp thông tin hai chiều, đối thoại hoặc có những hỗ trợ thiết thực giúp cộng đồng phát triển sinh kế để bù đắp lại những thiệt hại nếu có (ví dụ, mất đất nông nghiệp cho việc xây dựng nhà máy, bị ảnh hưởng bởi khói bụi, tiếng ồn…).

Tất nhiên, nếu doanh nghiệp cố tình gây ô nhiễm môi trường, vi phạm luật lao động hay làm những điều trái với quy định của pháp luật thì có vờ thực hiện CSR cũng chẳng ích gì, bởi CSR lúc này chỉ là biện pháp trá hình mà không phải là một chiến lược xuất phát từ thực tâm của công ty.

Thứ ba, CSR còn là chiến lược tạo sự khác biệt về thương hiệu, xây dựng sự yêu thích từ khách hàng, người tiêu dùng. Đây đang là xu hướng được nhiều tập đoàn trên thế giới coi trọng.

Một số hạn chế về nhận thức CSR

Trên thực tế, việc áp dụng CSR ở nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế và đôi khi như là bị bắt buộc thay vì doanh nghiệp chủ động xây dựng chính sách này. Một lý do thường được đưa ra là tiềm lực tài chính còn hạn chế – một số chủ doanh nghiệp cho biết họ đang hàng ngày phải lo đến sự tồn tại và lợi nhuận của công ty trước khi nghĩ đến những vấn đề xa hơn như lợi ích xã hội. Tuy nhiên, biện minh này chưa thuyết phục vì có nhiều công ty mặc dù điều kiện sản xuất và kinh doanh còn khó khăn nhưng vẫn dành nhiều ngân sách cho các hoạt động xã hội, chẳng hạn đóng góp quỹ vì người nghèo. Hơn nữa, việc thực hiện CSR không nhất thiết lúc nào cũng cần ngân sách tốn kém, nhiều khi chỉ cần nguồn lực khiêm tốn cũng có thể tạo ra những lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp.

Một lý giải khác xem ra thuyết phục hơn, đó là nhận thức về CSR còn hạn chế trong doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp chưa biết đến CSR là gì. Một số doanh nghiệp đơn thuần quan niệm CSR là làm từ thiện cho người nghèo, những người kém may mắn trong xã hội. Về lý thuyết thì nhìn nhận này không sai, nhưng làm từ thiện chỉ là một góc nhỏ và là cách hiểu đơn giản, trong khi đó CSR là chiến lược chủ động và hướng đến nhiều đối tượng và nhiều chủ đề khác nhau.

Mặt khác, nhận thức về quyền của người tiêu dùng ở Việt Nam chưa cao. Ở các nước phát triển, với ý thức về môi trường sống rất cao nên người tiêu dùng chỉ ủng hộ những doanh nghiệp có trách nhiệm đối với xã hội. Khách hàng sẽ chọn mua sản phẩm và dịch vụ của các công ty biết nỗ lực vì một xã hội lành mạnh và hiệu quả. Ngược lại, trên thế giới đã có nhiều phong trào tẩy chay sản phẩm của các công ty vi phạm đạo đức, trách nhiệm xã hội, chẳng hạn sản phẩm tạo ra từ việc sử dụng lao động trẻ em, sản phẩm gây tổn hại môi trường…

Để phát triển CSR đòi hỏi doanh nghiệp phải có tầm nhìn dài hạn và có sự quan tâm thích đáng. Hiện nay Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam kết hợp với một số bộ ngành liên quan triển khai dự án và hoạt động để quảng bá cho CSR này, như trao danh hiệu cho doanh nghiệp thực hiện CSR tiêu biểu, đánh giá và xếp hạng doanh nghiệp bền vững. Những hoạt động như vậy cùng với các quy định luật pháp chặt chẽ và trên hết là nhận thức của người tiêu dùng đối với các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội được tăng cường, hy vọng sẽ giúp CSR được áp dụng rộng rãi hơn. 

Tác giả: Đào Quang Minh

Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 1 – 2019

Bản quyền: Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Leave a Comment

Khóa bớt van để bia rượu đừng “chảy” tràn lan

Trốn cái nóng oi ả ngoài đường, bước vào cửa hàng tiện lợi 7-Eleven bên đường Sukhumvit, Bangkok (Thái Lan), tôi lựa nhanh mấy lon bia và đưa cho cô bé thu ngân. Cô lịch sự chỉ lên chiếc đồng hồ treo tường đang chỉ 2 giờ 15 chiều và nói với giọng tiếng Anh lơ lớ: “Chúng tôi không bán bia giờ này”. Tôi ngớ người không hiểu tại sao khi giữa ban ngày mà bị từ chối bán bia. Tôi rời khỏi cửa hàng với cảm giác không thoải mái. Để giải tỏa cơn khát, tôi phải đi đi bộ một quãng xa, vượt qua một dãy các kios bán áo phông Thái và đồ lưu niệm mới tìm được một nhà hàng bán đồ ăn phương Tây, nơi tôi có thể gọi một chai bia Singha với một ít snack để nhâm nhi và suy ngẫm về sự bất tiện vừa trải qua.

Khi có thời gian tìm hiểu tôi mới biết quy định này do Chính phủ Thái Lan đặt ra, theo đó các cửa hàng, siêu thị không được bán đồ uống có cồn trong thời gian từ 2-5 giờ chiều hàng ngày. Lý do, Chính phủ Thái muốn hạn chế việc trẻ em, đặc biệt là học sinh trung học có thể mua đồ uống có cồn, với lập luận là 2 giờ chiều là giờ sớm nhất mà học sinh tan trường và 5 giờ chiều là thời điểm mà học sinh đã về nhà với cha mẹ. Cấm bán bia rượu vào giờ đó sẽ hạn chế được khả năng học sinh và những bạn trẻ mua loại đồ uống này.

Điều này quả là trái ngược với Việt Nam khi rượu bia được bán và uống tràn lan ở khắp nơi, nhất là rượu tại các vùng nông thôn. Bước vào nhà nào bạn cũng có thể được mời uống rượu hoặc bia. Công việc trước đây cho tôi cơ hội đi đến nhiều vùng nông thôn và miền núi trong cả nước, đi đến đâu tôi cũng được mời uống rượu. Đối với những người có tửu lượng kém, đây là một cực hình. Mời uống rượu được xem là thể hiện sự hiếu khách của chủ nhà khi có khách đến thăm hay làm việc. Với người ở vùng cao, từ chối uống rượu thể hiện sự thiếu nhiệt tình và không hòa đồng. Sau khi uống rượu, thậm chí bị say, câu chuyện và mối quan hệ trở nên gần gũi hơn. Nhiều đồng nghiệp của tôi biết chuyện này nhưng cũng đành phải chấp nhận và coi như một rủi ro nghề nghiệp.

Rượu là đồ uống được ưa thích ở nông thôn và miền núi. Mỗi vùng miền lại có những loại rượu đặc sản khác nhau, chủ yếu được nấu thủ công từ gạo, ngô hoặc sắn. Có những loại rượu đã khá nổi tiếng nhưng phần lớn vẫn là các loại rượu không rõ nguồn gốc, không nhãn mác, không đăng ký theo bất kỳ tiêu chuẩn chất lượng nào. Uống những loại rượu này, thực chất người dùng phó thác sự tin tưởng vào người cung cấp rượu. Trong trường hợp bị ngộ độc thì nạn nhân cũng phải ráng chịu mà không biết kêu ai.

Ở các đô thị, bia rượu cũng được bán tràn lan. Ở Hà Nội hay TPHCM, cứ một đoạn lại thấy một quán bia hoặc quán nhậu đông đúc và ồn ào, hoạt động từ trưa đến đêm khuya. Khách hàng thì đủ độ tuổi: thanh niên, trung niên, người cao tuổi. Người ta đi nhậu vì đủ thứ lý do như giao lưu, thư giãn sau giờ làm việc, gặp gỡ bạn bè, bàn bạc công việc. Vui đi nhậu và buồn cũng đi nhậu. Khác với một số nước khác, văn hóa Việt Nam rất cởi mở đối với việc đi nhậu. Tôi có một số đồng nghiệp người Bangladesh, mỗi lần sang Việt Nam công tác lại tranh thủ đi nhậu vì tại quê hương họ bia rượu không được bán ở nơi công cộng.

Trong số những người vào quán nhậu có rất nhiều người còn rất trẻ, họ hồn nhiên mặc nguyên đồng phục của trường, ngồi nhậu và trò chuyện rôm rả. Nghiên cứu của trường Đại học Y tế công cộng cho thấy 44% học sinh Việt Nam uống cốc rượu bia đầu tiên trước 14 tuổi, 22,5% uống say ít nhất một lần; 80% nam vị thành niên và thanh niên uống rượu bia, tỷ lệ này là 36% đối với nữ.

Gánh nặng xã hội

Với dân số hơn 96 triệu người, Việt Nam là thị trường tiềm năng và mang đến lợi ích kinh tế khổng lồ cho các nhà sản xuất đồ uống có cồn, do vậy rất nhiều nhãn hiệu rượu bia có tiếng trên thế giới đều có mặt ở Việt Nam, như Heineken, SABMiller, Carlberg… Các hãng bia lớn từ châu Á như Kirin, Asahi, Asia Pacific Breweries, Thai Beverage và Singha cũng đang cạnh tranh quyết liệt để giành thị phần tại Việt Nam. Như báo chí đã đưa tin, cuối năm ngoái, ThaiBev đã chi gần 5 tỉ đô la Mỹ để sở hữu xấp xỉ 54% cổ phần Sabeco – công ty bia vào loại lớn nhất Việt Nam. Và rồi ngày 30-10 vừa qua, Hội đồng quản trị của Sabeco đã ban hành nghị quyết thông qua việc không hạn chế tỷ lệ nhà đầu tư nước ngoài tại công ty này, đồng nghĩa với việc Sabeco có thể trở thành công ty 100% vốn nước ngoài.

Tuy nhiên lợi nhuận kinh tế của doanh nghiệp không song hành với lợi ích về y tế và kinh tế cho xã hội.

Theo dõi kỳ họp Quốc hội mới đây, trong tờ trình của Chính phủ về dự án Luật Phòng chống tác hại của rượu bia, Bộ trưởng Bộ Y tế đã cho biết, năm 2017, người dân tiêu thụ khoảng 305 triệu lít rượu, tương đương 72 triệu lít cồn và gần 4,1 tỉ lít bia, tương đương với 161 triệu lít cồn. Bình quân mỗi người dân tiêu thụ khoảng 42 lít bia. Việt Nam là nước tiêu thụ bia cao nhất Đông Nam Á và thứ 3 châu Á sau Nhật Bản, Trung Quốc. Năm 2017, chi phí của người dân Việt Nam cho tiêu thụ chỉ riêng đối với bia là gần 4 tỉ đô la Mỹ.

Ước tính tổng gánh nặng trực tiếp của sáu bệnh ung thư mà rượu, bia là một trong những nguyên nhân đã là gần 26.000 tỉ đồng chiếm 0,5% tổng GDP năm 2017; chi phí giải quyết hậu quả của tai nạn giao thông liên quan đến rượu, bia chiếm tới 1% GDP (khoảng 50.000 tỉ đồng theo GDP năm 2017).

Theo thông tin từ Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), năm 2017 đã có 22/63 tỉnh, thành phố có xảy ra các ca ngộ độc rượu (chiếm 34,9%). Năm 2017 số ca ngộ độc rượu tăng đột biến, đặc biệt là rượu có pha methanol, với 10 vụ và 119 người mắc, 115 người đi viện. Có những vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng như vụ ngộ độc tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xảy ra ngày 13-2-2017 khiến 9 người tử vong.

Nghiên cứu của Học viện Cảnh sát tại 11 tỉnh vào năm 2015 cho thấy đến 70% vụ phạm pháp hình sự liên quan đến uống rượu, bia ở người chưa tới 30 tuổi. Học sinh uống rượu bia dẫn đến hàng loạt vấn đề xã hội như nghỉ học, ẩu đả, mâu thuẫn với gia đình, bạn bè, có hành vi tình dục không an toàn… Uống rượu bia ở học sinh gây hậu quả nghiêm trọng về phát triển cơ thể hơn so với người lớn do não bộ tiếp tục phát triển đến tuổi 25. Uống rượu bia sớm, não càng dễ bị tổn thương và nguy cơ cao bị nghiện.

Rượu bia mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các tập đoàn sản xuất rượu bia, do vậy cũng dễ hiểu nếu có những hoạt động vận động hành lang để dự thảo luật tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp rượu bia. Tuy nhiên các gánh nặng về y tế, chi phí xử lý hậu quả của rượu bia cũng như hệ lụy của nó đến với thế hệ trẻ là nhãn tiền mà các nhà lập pháp cần quan tâm đúng mức.

Dự thảo Luật Phòng chống tác hại của rượu bia còn những điều khoản đang được cân nhắc, tuy nhiên các ý kiến ủng hộ cho rằng Quốc hội nên thông qua dự luật với các giải pháp rõ ràng, quyết liệt hơn trong việc quản lý sản xuất, tiêu thụ rượu bia; có các biện pháp nhằm giảm cầu và hạn chế sự dễ tiếp cận, như áp thuế, không bán rượu bia cho những độ tuổi và khung giờ nhất định, hạn chế tiếp thị…, để từng bước thu hẹp việc lạm dụng rượu bia trong giới trẻ.

Tác giả: Đào Quang Minh

Bài đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 49 – 2018

Bản quyền: Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Leave a Comment